Để tỏ ý nuối tiếc thời gian trôi qua nhanh một cách vô tình không chờ đợi ai, dân gian thường sử dụng hình ảnh “bóng câu qua cửa sổ”.

Về từ “câu” trong tổ hợp trên, có ý kiến cho rằng cụm từ cố định đã dùng biện pháp so sánh, tạo nghĩa của hình ảnh nhằm chỉ thời gian trôi đi thật nhanh chóng, giống như bóng của con chim bồ câu bay lướt qua cửa sổ. Không đồng tình với quan điểm trên, ý kiến khác lại cho rằng “câu” trong thành ngữ này là đọc trại âm của từ “cau”, dùng để chỉ sự trôi qua nhanh chóng của thời gian, giống như bóng của một cây cau đổ vào cửa sổ, khi mặt trời chuyển nắng gắt trước hoàng hôn thì bóng cây cau in trên khung cửa sổ sẽ vụt trôi qua rất nhanh. Tựu trung, hai luồng ý kiến trên đều đồng nhất “bóng câu” chỉ thời gian vụt trôi nhanh, không thể nào níu giữ được, nhưng khác nhau ở chỗ một bên cho bóng câu là bóng con chim bồ câu, bên khác lại cho là bóng của cây cau.
Tra cứu “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, ta thấy tác giả ghi nhận hai nghĩa của danh từ “câu”, gồm nghĩa 1: câu là từ cũ theo phong cách văn chương, nghĩa là “ngựa con đang sức lớn”, ví dụ “Thời gian như bóng câu qua cửa sổ” (qua đi rất nhanh) và nghĩa 2: câu là nói tắt của từ “bồ câu”; không thấy từ điển ghi nhận “câu” là cây cau. Khảo cứu thêm nhiều ý kiến khác, chúng tôi thấy đa số quan điểm đều đồng tình với ý kiến thứ ba, rằng từ “câu” là chỉ con ngựa non. Trong một số văn cảnh cổ, “câu” được hiểu là ngựa non hoặc ngựa khỏe mạnh, có khả năng chạy rất nhanh, cũng nhằm diễn tả thời gian trôi đi rất nhanh. Giải thích thêm, bằng nghệ thuật ẩn dụ, tổ hợp “bóng câu qua cửa sổ” dùng hình ảnh bóng của một chú ngựa non khỏe mạnh chạy vút qua cửa sổ để ví với thời gian trôi nhanh. Do khung cửa sổ thường có kích thước nhỏ hẹp, hình ảnh này tạo ra ấn tượng về tốc độ ngựa phi nhanh, lướt qua trong khoảnh khắc; sự ví von đó hàm ẩn chỉ cuộc đời con người ngắn ngủi, mọi sự đến rồi đi rất nhanh. Vậy cuối cùng, “câu” là gì?

Khảo sát 3 từ tồn nghi ở trên, ta thấy tự dạng chữ Nôm của chúng hoàn toàn khác nhau: từ đọc là cau (chứ không phải câu), trong cấu trúc chữ có bộ mộc nghĩa phổ biến là gỗ/cây cối/đồ gỗ, nên từ này có thể loại trừ; từ câu tiếp theo trong cấu trúc chữ có bộ điểu nghĩa là con chim, loài chim, câu ở đây là cách nói tắt của từ bồ câu/chim bồ câu – cũng có thể loại trừ; đến từ câu còn lại trong cấu trúc chữ có bộ mã chỉ con ngựa, từ câu này chỉ con ngựa non mạnh khỏe như đã dẫn trên, là chấp nhận được. Thêm nữa, ngoài “bóng câu” quen thuộc trong ngữ liệu trên, ta còn thường thấy thêm một số từ ghép có yếu tố câu như “vó câu” để chỉ chân ngựa, “roi câu” là cây roi dùng để đánh/điều khiển ngựa. Như vậy, trừ từ cau ra, tuy phát âm trong tiếng Việt có hai từ “câu” đồng âm nhưng xét trên cơ sở tự dạng thì đó là hai từ khác nghĩa. Đến đây có thể nhận xét, “bóng câu” chính là bóng ngựa chạy lướt ngang qua cửa sổ, dựa trên thực tế, ngựa non trẻ khỏe, hiếu động và thích chạy, nên chạy rất nhanh.
Đi sâu tìm hiểu xuất xứ của ngữ liệu, nhiều tài liệu xác định tổ hợp từ này bắt nguồn từ cụm từ “bạch câu quá khích” trong văn hóa Trung Hoa. Sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử (ở thiên Trí Bắc du) có câu: “Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích, hốt nhiên nhi dĩ”, nghĩa là “con người sống trong trời đất, giống như ngựa trắng thoáng qua cái khe hẹp, chỉ trong chốc lát mà thôi” diễn tả sự trôi qua mau chóng của đời người. Ngựa câu vốn đã chạy nhanh, nhìn ngựa câu chạy qua khe hẹp thì càng nhanh gấp bội (do ấn tượng thị giác bởi trường nhìn bị thu hẹp). Người Trung Hoa dùng hình ảnh này để ví với tốc độ của thời gian trôi qua nhanh. Du nhập vào văn hóa Việt, “khích” trong câu trên được chuyển thành “cửa sổ” và kết hợp từ “bóng” làm cho ấn tượng về tốc độ tăng lên nhiều lần, vì nhìn ngựa phi đã thấy nhanh, nên khi ngựa phóng vút qua chỉ kịp thấy cái bóng của nó thì tốc độ còn nhanh bội phần.
Khi đúc kết nên một hình ảnh sinh động qua thành ngữ, tục ngữ để diễn tả một khái niệm, hẳn người xưa không chỉ tổng kết lại một kinh nghiệm thực tiễn mà thường còn ký thác vào đó những lời giáo huấn dành cho hậu thế. Đời người trăm năm hữu hạn “nhân sinh bách tuế vi kỳ” trong cái thăm thẳm vô cùng của thời gian, của vũ trụ chẳng khác nào một tia chớp lóe lên rồi vụt tắt; bởi vậy, mỗi người càng phải biết quý trọng quỹ thời gian cuộc đời của mình, như ý nghĩa tương tự của nhiều câu tục ngữ: Thời giờ ngựa chạy tên bay/ Nó đi đi mãi hết ngày lại đêm; Thời giờ ngựa chạy tên bay/ Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm…

Nhìn lại văn chương Trung đại Việt Nam, hình ảnh “câu” hoặc “bóng câu” từng được nhiều tác gia sử dụng, trong đó phải nhắc đến câu thơ quen thuộc trong trứ tác Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều “Bóng câu thoáng qua mành mấy nỗi/ Những hương sầu phấn tủi sao xong” thể hiện tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người cung nữ khi bị vua bỏ rơi, đã oán trách cuộc đời bạc bẽo. Ngoài ra, trong kiệt tác Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du cũng nhiều lần tinh tế dùng từ “câu” chỉ con ngựa, đã lột tả tinh tế sắc thái tâm trạng phong phú của các nhân vật.
Theo “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh, trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã 4 lần dùng từ “câu” với nghĩa là con ngựa, cụ thể: câu 139 “Tuyết in sắc ngựa câu giòn” nằm trong đoạn tả cảnh mùa xuân khi Thúy Kiều gặp gỡ Kim Trọng, câu lục này cùng với câu bát kế tiếp “Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời” không chỉ miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên mùa xuân trong trẻo với bạch mã tinh khôi sắc trắng in lên đồng cỏ xanh mướt tận chân trời mà còn khắc họa vẻ thanh lịch của văn nhân Kim Trọng hào hoa, phong nhã trong lần đầu gặp gỡ chị em Thúy Kiều, tạo nên một khung cảnh đẹp, ấn tượng, khởi đầu một thiên tình sử trong Truyện Kiều.
Đến lúc phải ra đi cùng Mã Giám Sinh, “Đoạn trường thay lúc phân kỳ/ Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh” trong đoạn “Mã Giám Sinh mua Kiều”, tác giả miêu tả cảnh Thúy Kiều bị Mã Giám Sinh đưa đi khỏi nhà, rồi sau đẩy vào lầu xanh ê chề đầy khổ đau, tủi nhục. Câu thơ giúp bạn đọc hình dung ra cảnh xe ngựa đưa Kiều rời nhà trên con đường gập ghềnh với “vó câu khấp khểnh”, tạo nên hình ảnh dự cảm về con đường tương lai đầy chông gai, trắc trở sắp đến trong cuộc đời Kiều. Đến câu 1.602 “Vó câu thẳng ruổi nước non quê người” ở đoạn Hoạn Thư giả vờ hiếu nghĩa, dùng lời lẽ khéo léo giục Thúc Sinh quay về Lâm Tri, ngay lập tức Thúc Sinh mừng rỡ “được lời như cởi tấc son” bèn vội vàng lên đường tức khắc.
Đặc biệt, trong lúc nguyên tác văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân chỉ tả sơ sài “Chàng từ biệt tiểu thư xuống thuyền nhổ neo đi thẳng” không rõ tâm trạng của Thúc Sinh ra sao, thì thiên tài Nguyễn Du lại sáng tạo cho Thúc đi ngựa, rồi bằng câu thơ tài hoa “Được lời như cởi tấc son, Vó câu thẳng ruổi nước non quê người”, nhà thơ đã mượn bước chân ngựa bồn chồn, gấp gáp “vó câu thẳng ruổi” mà tả nỗi lòng hân hoan khôn xiết của Thúc Sinh, kết hợp với từ “roi câu” (roi ngựa) trong câu 1.605 “Roi câu vừa chỉ dặm trường” miêu tả cảnh Thúc Sinh hối hả, nóng lòng quất ngựa ruổi nhanh về Lâm Tri để gặp lại Thúy Kiều sau thời gian dài mỏi mòn xa cách.
Nhân Tết Bính Ngọ 2026, tản mạn đôi điều về từ “câu” trong hình ảnh quen thuộc “bóng câu qua cửa sổ” nhằm giải tỏa một số tồn nghi quanh từ “câu” trong thành ngữ, để cùng chung tay bảo tồn, tôn vinh vẻ đẹp bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Phan Thị Mỵ

Bình luận (0)