|
Bà Phan Thị Cảnh tại bến đò Ba Lòng, nơi bà đã từng vượt mưa bom bão đạn đưa bộ đội sang sông Thạch Hãn
|
Con đò máy đưa chúng tôi ngược dòng Thạch Hãn huyền thoại trong một ngày tháng bảy. Tiếng hát ngọt ngào phát ra từ chiếc loa phóng thanh giữa chiều chiến khu xưa Ba Lòng xanh vời vợi làm xốn xang lòng người: “Ngược dòng sông em về bến Trấm/ Đất Ba Lòng nắng đỏ lung linh/ Ngọn nguồn xưa em tìm về nơi ấy/ Xao xuyến lòng em nhớ tới những ngày…”.
Chứng nhân lịch sử
Khung cảnh nên thơ, ít ai nghĩ rằng cách đây nửa thế kỉ, vùng đất nơi đầu nguồn sông Thạch Hãn này từng đảm nhiệm sứ mệnh cao cả của lịch sử với hơn 3.000 ngày làm trái tim kháng chiến của cả nước.
Tháng 2-1947, về cơ bản Pháp đã đánh chiếm được địa bàn huyện Đa Krông cũng như các địa bàn xung yếu khác của Quảng Trị. Mặt trận toàn tuyến bị vỡ đã gây không ít hoang mang trong quần chúng nhân dân. Đó là thời kì khó khăn chồng chất. Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính kháng chiến đã quyết định chọn thung lũng Ba Lòng làm căn cứ địa cách mạng, đồng thời là trung tâm đầu não kháng chiến. Bà con các xã Ba Lòng, Hải Phúc, Triệu Nguyên ở chiến khu này đã đồng cam cộng khổ cùng cách mạng, một lòng tận tụy làm cầu nối giữa Đảng với dân và chính họ đã giữ vững thành trì của lòng dân cho đến ngày toàn thắng. Dẫn chúng tôi ra bến đò Ba Lòng, bà Phan Thị Cảnh, du kích xã Ba Lòng từng làm nhiệm vụ đưa đò đưa đón cán bộ ta qua sông nhớ lại: “Thuở đó giặc Pháp chiếm đóng tứ phía, công việc đưa đò chở cán bộ, bộ đội về chiến khu và đi các nơi khác cực kì nguy hiểm nhưng hễ các anh có việc cần là tui lập tức thăm dò tình hình trên sông rồi đưa các anh đi”. Bảy năm chèo đò đưa bộ đội sang sông xuôi ngược chiến khu Ba Lòng, 5 tháng bị địch bắt giam tra tấn dã man, bà trốn ra được khỏi trại giam lại quay về cầm mái chèo tiếp tục đưa đò phục vụ cách mạng không một ngày ngơi nghỉ.
Trong kí ức của người Xã đội trưởng Ba Lòng ngày ấy – ông Nguyễn Hữu Cửu (95 tuổi) vẫn còn nhớ như in: “Tháng 5-1947, chiến khu Ba Lòng trở thành trụ sở hoạt động của bộ đội chủ lực, cơ quan Đảng, Ủy ban Hành chính kháng chiến, đoàn thể, công an, quân dân bào chế và các công xưởng… Đây là trung tâm lãnh đạo của cả tỉnh. Gần 10 năm ròng rã (1947-1954) thực dân Pháp đã nhiều lần tập trung lực lượng tấn công Ba Lòng, nhưng chúng không thể đánh đổ được sự kiên cường, lòng yêu nước của nhân dân vốn được núi rừng quê hương che chở. Cũng tại vùng chiến khu này, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cố Tổng bí thư Lê Duẩn và nhiều đồng chí khác đều từng có thời gian hoạt động. Năm 1947, một sự kiện lớn là Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ hai diễn ra an toàn tại khe Su. Khoảng 1953-1954, sự kiên cường của quân dân Ba Lòng đã góp phần đẩy thực dân Pháp từ thế chủ động về bị động. Âm mưu lập vành đai trắng và đánh nhanh thắng nhanh của chúng cơ bản bị phá sản”.
Ba Lòng ngày mới
|
|
Vùng đất chiến khu xưa sau hơn nửa thế kỉ vẫn chưa thể xóa hết dấu tích của chiến tranh. Vẫn còn đó những địa danh như khe Da Vịt, khe Cây, khe Cau, khe Vồn Vò (Ba Lòng), khe Su (Hải Phúc), khe Làng An (Triệu Nguyễn), Động Mìn… gắn bó máu thịt một thời với chiến khu xưa, ghi dấu biết bao tội ác không thể quên. Mỗi tên đất tên làng đều là hiện thân của nỗi đau và sự bất tử. Ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch UBND xã Ba Lòng phấn khởi cho biết: “Toàn xã có hơn 600 hộ dân thì 1/3 trong số đó sản xuất khá, giỏi. Xã có 1 trường THCS và 2 trường tiểu học, 100% trẻ từ 6 tuổi được đến trường. Năm học 2010-2011 toàn xã có 14 học sinh thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng trong toàn quốc. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,82% so với năm 2010”. Ông Quang cho biết thêm, để đạt được những thành quả đáng mừng đó ngoài sự hỗ trợ kịp thời của Nhà nước còn có sự nỗ lực hết mình của những người từng đi qua chiến tranh, từng cầm súng đánh đuổi giặc giành giật từng tấc đất ngọn cây. Họ bước qua ranh giới của sự sống chết như hạt gạo trên sàng, vững vàng trước khó khăn làm điểm tựa cho thế hệ trẻ xây dựng vùng chiến khu xưa ấm no.
Đến Ba Lòng vào những ngày này, ngôi nhà của ông Đỗ Quang (người chăm sóc Nghĩa trang Ba Lòng) gần như ngày nào cũng đón thân nhân liệt sĩ khắp nơi tìm về. Trong số họ có người quay lại cám ơn ông đã tìm giúp người thân, người lặn lội đường xa đến mong một lần tìm được đúng nơi chồng, cha mình ngã xuống. Trở về từ chiến trường khói lửa điêu linh, ông Quang bảo mình là người may mắn hơn rất nhiều đồng đội còn nằm lại giữa rừng sâu. Bởi thế, suốt mấy chục năm nay, ông tình nguyện chăm sóc nghĩa trang, tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ đưa các anh về quê hương.
Chiều chiến khu xanh cao vời vợi, những người lính già một thời trận mạc ngồi bên nhau giữa những hàng mộ trắng. Ánh nắng tỏa rạng một vùng sông nước Thạch Hãn mang theo hơi gió mát lành. Ông Nguyễn Hữu Cửu hướng ánh mắt về phía khởi nguồn Thạch Hãn nói: “Sống đến tuổi này không gì hạnh phúc bằng được nhìn thấy quê mình đổi thay. Bây giờ, Nhà nước quan tâm, người đau ốm đã có trạm xá, trẻ con đến tuổi được tạo điều kiện tới trường ăn học… là vui lắm rồi”.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
|
LTS: Nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27-7-1947/27-7-2012), phóng viên Báo Giáo Dục TP.HCM đã có chuyến về nguồn tìm hiểu sự đổi thay trên dòng sông lịch sử Thạch Hãn huyền thoại của tỉnh Quảng Trị, nơi có hàng vạn liệt sĩ đã ngã xuống, nằm lại với lòng sông, đem hòa bình, no ấm cho quê hương.
|
Kỳ 2: Bến Đá Đứng – “Con rồng” nằm ngang sông



Bình luận (0)