Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.

Nhận xét trên có lẽ xuất phát từ đặc sắc thơ Thế Lữ, mà nhiều người đặt ông vào vị trí “số một” của phong trào Thơ mới: “Độ ấy Thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột ngột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh…” (Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân). Còn theo “Từ điển văn học”, Thế Lữ là người tiên phong mang luồng gió mới với phong cách lãng mạn, ảo mộng, phá vỡ quy tắc cũ, dùng ngôn ngữ giàu sức gợi, cảm xúc mạnh mẽ…
Đánh giá về sự nghiệp Thế Lữ, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cũng đã viết: “Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến Thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai Thơ mới. Thơ ông không phải chỉ mới ở lời mà còn mới cả ở ý nữa” (Nhà văn hiện đại).
Sự nghiệp thơ ca lớn lao là vậy. Song ít ai thấy hết Thế Lữ là một nghệ sĩ đa tài, đóng góp nhiều hoạt động nghệ thuật. Và cuộc đời của tác giả “Nhớ rừng” cũng không ít những giai thoại thú vị.
Người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xã hội Việt Nam trước đây không có sân khấu kịch hiện đại, chỉ có sân khấu biểu diễn các loại hình diễn xướng truyền thống như chèo, tuồng… Vào ngày 22-10-1921, vở kịch “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long được xem là vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam, đã được diễn tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với sự bảo trợ của Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp Ái hữu, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng là khai sinh nền kịch nói hiện đại Việt Nam. Tuy vậy, giữa buổi giao thời “Ta, Tàu, Tây lẫn lộn” (chữ của Vũ Trọng Phụng), cần phải có những cây bút chủ lực của nền văn nghệ mới như Vũ Đình Long, Thế Lữ, Vi Huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyên Hồng, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên… đóng góp công sức gầy dựng mới định hình nên nền kịch nghệ Việt Nam hiện đại. Trong đó, Thế Lữ là một trong những người Việt Nam đầu tiên “làm bầu” khi thành lập các ban kịch Thế Lữ, Tinh hoa, Anh Vũ… quyết tâm “chuyên nghiệp hóa” kịch nghệ Việt Nam.
Trong bài viết “Nhà thơ Thế Lữ – một tài năng muôn mặt”, nhân kỷ niệm 90 năm phong trào Thơ mới (1932-2022), tác giả Cao Linh đã đánh giá tổng hợp đóng góp của Thế Lữ: Ông là một trong những người đầu tiên đưa kịch nói lên sân khấu ở Việt Nam và là người duy nhất đưa kịch nói từ trình độ nghiệp dư lên trình độ chuyên nghiệp. Ông cũng là nhà đạo diễn đầu tiên ở nước ta. Trong khi những người hoạt động kịch nói cùng thời chỉ thỉnh thoảng tổ chức biểu diễn kịch nói với lý do quyên góp tiền làm việc thiện thì ông lần lượt thành lập 3 ban kịch chuyên nghiệp sống được bằng tiền bán vé: Ban kịch Tinh Hoa (năm 1938), Ban kịch Thế Lữ (năm 1941) và Ban kịch Anh Vũ (năm 1943). Xét về phương diện này, Thế Lữ xứng đáng được gọi là người sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam.
Cơ duyên đến với kịch, có lẽ Thế Lữ ngộ ra rằng, với thơ, truyện, báo chí… thì không đủ đầy để miêu tả một cái đẹp hữu hình. Chỉ kịch mới nói hết sự bức bối, thỏa chí tang bồng văn nghệ của ông. Thể loại kịch, do đó “vừa vặn với niềm say mê khám phá cái mới lạ, thường xuyên cư ngụ và đốt cháy lòng ông. Hơn thế nữa, thể loại kịch còn vừa đủ để ông thâu góp cùng lúc vẻ đẹp tinh túy của tất cả những lĩnh vực văn chương mà ông từng trải” (Cao Linh).
Ngoài “khai sáng” Thơ mới, viết kịch bản phim, viết phê bình văn học (xem “Thế Lữ, nhà phê bình văn học”, Phạm Đình Ân, Tạp chí Sông Hương, ngày 6-7-2009), “sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam” như đã nói ở trên, Thế Lữ còn là người mở đầu cho một số thể loại văn xuôi nghệ thuật như truyện trinh thám, truyện khoa học, truyện kinh dị đầy bí hiểm, ly kỳ, hồi hộp như: Vàng và máu (1934), Bên đường Thiên Lôi (1936), Gói thuốc lá (1940), Gió trăng ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941)…
Thế Lữ chữa thơ Xuân Diệu
Bên cạnh con người đa tài, cuộc đời Nguyễn Thứ Lễ có nhiều giai thoại thú vị. Ai cũng biết, Thơ mới ra đời từ năm 1932, khởi đầu (được nhiều người cho) là bài thơ “Tình già” của Phan Khôi. Nhưng nhiều người vẫn không quên kể công vai trò tiên phong của Thế Lữ. Chỉ một thời gian ngắn sau, hàng loạt các nhà thơ lứa tiếp theo xuất hiện như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… khiến các lứa đầu trở nên “già nua”. Ấy thế mà chính Thế Lữ đã “dìu dắt” đàn em theo sau. Chính Thế Lữ đã phát hiện, giới thiệu Xuân Diệu – “ông hoàng thơ tình”, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Trong bài viết “Một nhà thi sĩ mới” (đăng trên Báo Ngày nay, số 46, Tết 1937), Thế Lữ đã viết về Xuân Diệu: “Đó là một tâm sự nồng nàn kín đáo, một linh hồn rạng rỡ và say mê… Với những câu thơ ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh hoa, Xuân Diệu là một tay thơ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật tài hoa và cần mẫn…”.
| Nhà thơ Thế Lữ nổi danh trên văn đàn vào những năm 1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài “Nhớ rừng”, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện “Vàng và máu”. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm kịch kháng chiến trong những năm chiến tranh Đông Dương. Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục hoạt động sân khấu, trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957-1977). Nhà thơ Thế Lữ đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân năm 1984 và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000. |
Tác giả Nguyễn Duy Thanh, trong cuốn “Giai thoại văn học” (NXB Văn hóa dân tộc, HN, 2000), có kể việc Thế Lữ… chữa thơ cho Xuân Diệu. Ai đã đọc bài “Nhị hồ” của Xuân Diệu hẳn không thể quên hai câu thơ nổi tiếng: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Nhưng lúc đầu Xuân Diệu không viết thế, mà trong bản thảo gửi về Báo Ngày nay, ông viết: “Sương nương theo trăng ngừng giữa trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Chính Thế Lữ đã chữa một từ (từ “giữa” thành chữ “lưng”) mà câu thơ “xuất thần” hẳn lên. Vừa đạt ý lại đạt lời; hài thanh và hay cả tiết tấu, nhạc điệu.
Nhiều người hay đọc cho vui với nhau bài thơ “Tình hoài” của Thế Lữ. Bài này có nguyên văn như sau: “Trời buồn làm gì trời rầu rầu/ Anh yêu em xong anh đi đâu?/ Lắng tiếng gió, suối, thấy tiếng khóc/ Một bụng một dạ một nặng nhọc/ Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi/ Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi/ Thương thay cho em căm thay anh/ Tình hoài càng ngày càng tày đình”. Bài thơ này đặc biệt ở chỗ từng cặp câu đều chỉ toàn thanh bằng hoặc thanh trắc. Âu đó cũng là thú vui khi làm thơ, và cũng là tài năng thơ của Thế Lữ.
Trần Ngọc Tuấn

Bình luận (0)