|
Anh Văn Thành Đẹp với gần 30 năm trong nghề làm lu
|
Làng nghề đúc lu ở ấp Quý An Hòa (xã Hòa Lợi, Thạnh Phú, Bến Tre) có từ những năm đầu của thập niên 80 thế kỉ trước. Đây là một trong những làng nghề đúc lu lớn nhất miền Tây Nam bộ, rất nhiều gia đình nhờ nó mà trở nên giàu có.
Nhưng trong khoảng 2 năm nay, nghề làm lu đã bắt đầu mai một dần.
Qua rồi thời hoàng kim
Bất kể thời tiết khô ráo hay ẩm ướt, khoảng 4 giờ sáng là vợ chồng anh Văng Thành Đẹp (ấp Quý An Hòa, Hòa Lợi, Thạnh Phú) bắt đầu các công đoạn làm lu và đến 7 giờ tối mới tạo được những lu thành phẩm. Trong khoảng thời gian ấy, với công sức hai vợ chồng “đầu tắt mặt tối” sẽ làm ra được từ 20 đến 22 cái lu. Mỗi cái bán được từ 40 đến 45 ngàn đồng, sau khi khấu trừ các chi phí vật tư có lãi từ 15 đến 20 ngàn đồng/1 cái lu, nhưng mãi nửa năm sau mới lấy được số tiền vốn và lãi đó nếu trong khoảng thời gian người mua sử dụng không xảy ra sự cố gì làm lu hư hỏng. Đó là bối cảnh của đời sống gia đình anh Đẹp – một trong những hộ dân ít ỏi còn bám trụ với nghề làm lu tại làng nghề nổi tiếng này, và anh hiểu rằng mình đang đối mặt với sự mai một dần của nghề. Cùng cảnh ngộ với anh Đẹp, anh Hồ Văn Nam cho biết: “Cứ làm tới đâu hay tới đó, chứ tôi không có nhiều vốn thì làm sao mua ghe đi buôn hoặc chuyển sang làm bàn, ghế xi măng”.
Anh Nguyễn Chí Nhân, Chánh văn phòng UBND xã Hòa Lợi cho biết: “Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Lợi chỉ còn trên dưới 20 hộ duy trì nghề làm lu. Thời hoàng kim của nghề này tại xã Hòa Lợi có gần 200 lò đúc, lu thành phẩm vài chục ngàn cái mỗi năm và lợi nhuận tổng thể hơn 10 tỉ đồng/năm. Đời sống người dân làm lu và các thương lái kinh doanh liên quan đến lu rất khá giả, giàu có”. Sẽ không quá lời khi nói ông Đỗ Văn Đây (Tư Đây), 77 tuổi là “cha đẻ” của làng nghề này. Nhưng hơn 3 năm nay, ông và các con đều từ bỏ nghề làm lu, cái nghề đã từng mang đến cho ông tiền bạc dư giả của đời sống vật chất và nhiều sự vinh danh ca ngợi, ngưỡng mộ trong đời sống tinh thần… Thế mà hôm nay, ngồi trước ngôi nhà tường đã cũ kỹ vì bụi thời gian, ông phải bùi ngùi thốt lên rằng “Thời của nghề đúc lu đã hết rồi”.
Vì đâu nên nỗi?
Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng lu trong khu vực như Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh… hầu như bão hòa. Cũng vì thế mà thị trường đầu ra trở thành nỗi trăn trở của người dân sống nhờ lu ở Hòa Lợi. Thương lái phải chịu khó chở hàng xuống tận Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, có khi qua đến tận Campuchia để bán mà lời lãi chẳng bao nhiêu.
Ông Võ Văn Tiền, Chánh văn phòng UBND huyện Thạnh Phú phân tích: “Những năm gần đây, nhu cầu xây nhà tăng cao ở nông thôn, kèm theo đó là xây thêm các hồ xi măng to chứa đến vài ngàn mét khối nước nên thể tích chứa nước của lu quá khiêm tốn trước nhu cầu của người dân… Lu khó tìm được đầu ra ổn định vì tốc độ phát triển về kinh tế cũng như đời sống người dân ở nông thôn đã đi lên nên lu đã không còn phù hợp nữa. Ngoài ra, nếu chứa nước trong lu lâu ngày sẽ có vị lạt, chát hơn (vì bị ôxy hóa) so với chứa trong kiệu (có nơi gọi là lơn, loại này xuất xứ từ Bình Dương, vì đặc thù nguyên vật liệu tại địa phương không có) nên đó cũng là điểm hạn chế của lu”.
Hầu hết các lò làm lu ở Hòa Lợi ngày ấy giờ đã chuyển sang làm bàn, ghế xi măng, những gia đình tích góp kha khá thì mua ghe và học làm thương lái đi buôn. Và làng nghề “nổi tiếng” này đã chuyển mình theo thời thế. “Rất đơn giản vì một cái lu làm xong lời chỉ 20 ngàn đồng, và cũng với công sức ấy một cái bàn kiếm trên dưới 100 ngàn đồng. Vấn đề là vốn bỏ ra hơi nhiều nên không phải ai cũng làm được, nhưng được cái là thị trường bàn, ghế xi măng còn mới mẻ nên rất dồi dào. Ngày trước và nay mỗi cái lu cũng lời bằng số tiền 20 ngàn, nhưng trước cát có 4, 5 ngàn đồng/kg, nay thì hơn 20 ngàn rồi… nên muốn khá phải thay đổi mới được” – anh Văng Thành Đẹp tâm tư.
Bài, ảnh: Mã Phương
| Ông Nguyễn Khuyến Khích, Trưởng phòng Kinh tế huyện Thạnh Phú cho biết: “Làng nghề làm lu ở Hòa Lợi đã đóng góp rất tích cực cho sự phát triển kinh tế địa phương, giải quyết việc làm cho nhiều thanh niên địa phương, cũng như kinh tế hộ gia đình. Chúng tôi sẽ có biện pháp hỗ trợ kịp thời cho sự chuyển biến ở làng nghề này để thời vàng son của làng lu không bị đẩy vào quá khứ…”. |


Bình luận (0)