“Học đi đôi với hành” là thước đo cho những điều đã học được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và kiểm chứng những lý thuyết đó là đúng đắn.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu đổi mới trong dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Theo đó, việc dạy học cần tăng cường tính thực tiễn, gắn kiến thức với đời sống, giúp học sinh không chỉ hiểu mà còn biết vận dụng vào các tình huống cụ thể. Đồng thời, hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng được đổi mới theo hướng chú trọng năng lực phân tích, liên hệ và vận dụng kiến thức môn học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, hướng tới mục tiêu phát triển năng lực của học sinh, giảm tính hàn lâm, hạn chế tình trạng “học tủ”, “học vẹt”, tăng cường tính phản biện, khả năng tư duy.
Thế nhưng, nhìn vào bộ sách giáo khoa (SGK) hiện hành, chúng ta không khỏi giật mình trước những câu hỏi “dở khóc dở cười” do nhóm tác giả biên soạn “nhào nặn” tình huống “phi thực tế”!

Với tình huống này, ô tô đạp phanh gấp “khét lẹt” và dừng lại chỉ sau 0,5 giây, với quãng đường “lết bánh” đến khi dừng hẳn là 5m. Chiếc xe lao đi với gia tốc là -40 m/s2 gấp bốn lần gia tốc trọng trường thì vận tốc của ô tô “1 giây trước thảm họa” là cực kỳ khủng khiếp!
Nhóm tác giả bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống muốn gửi gắm thông điệp gì khi đưa ra một tình huống giao thông “thảm khốc” như thế? Và cứ thế, những bài toán tương tự được đưa vào đề kiểm tra, đề ôn thi mà ngay đến giáo viên cũng không phát hiện sự bất thường. (xem hình 2)


Bài toán này không sai về mặt toán học, nhưng bất ổn để áp dụng thực tế. Giáo viên có thể biện minh rằng miễn là kiến thức toán học không sai, còn tình huống thực tế là phạm vi ngoài chuyên môn, không cần đem ra bàn luận. Điều đó có khác gì học sinh vẫn đang “máy móc” áp dụng công thức cho những bài học có “vỏ bọc” thực tế.
Tôi cho rằng định hướng giáo dục gắn với thực tiễn là hướng đi đúng đắn, mang lại nhiều hiệu quả tốt, là xu thế phát triển giáo dục của nhiều nước tiên tiến. Tuy nhiên, để học sinh được thực hành, trải nghiệm, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn nhiều hơn thì học sinh và cả thầy cô giáo cần được trang bị năng lực mô hình hóa toán học và năng lực tư duy phản biện.
Theo tác giả Trần Vui (Giải quyết vấn đề thực tế trong dạy học Toán, NXB Đại học Huế, 2014), mô hình hóa là toàn bộ quá trình chuyển đổi từ vấn đề thực tế sang vấn đề toán học và ngược lại cùng với mọi thứ liên quan đến quá trình đó, từng bước xây dựng lại tình huống thực tế quyết định một mô hình toán phù hợp, làm việc trong môi trường toán, giải thích đánh giá kết quả liên quan đến tình huống thực tế và đôi khi cần phải điều chỉnh các mô hình lặp lại quá trình nhiều lần cho đến khi đạt được một kết quả hợp lý.
Hiện nay các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) khá phổ biến, giáo viên có thể dễ dàng tham khảo hoặc kiểm chứng thông tin về các bài toán có mô hình thực tế, từ đó điều chỉnh để đạt được một kết quả hợp lý. Rất khó đặt ra các bài toán “giống hệt” thực tế nhưng cũng đừng quá “phi thực tế”. Điều đó phụ thuộc vào sự cẩn trọng của đội ngũ nhà giáo.
Từ năm học 2020-2021, Bộ GD-ĐT triển khai “một chương trình, nhiều bộ SGK mới” theo hướng xã hội hóa giáo dục, là chủ trương đúng đắn và tiến bộ. Đây là dấu mốc quan trọng của hành trình chuyển đổi mục tiêu dạy học, coi SGK chỉ là “học liệu” chứ không phải nguồn kiến thức duy nhất. Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện đối mặt với nhiều bất cập thì cả nước lại quay về dùng chung một bộ SGK. Từ năm học 2026-2027, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống được chọn là bộ SGK thống nhất toàn quốc. Vấn đề quan trọng là Bộ GD-ĐT cần rà soát, thẩm định nội dung của bộ SGK hiện hành, chỉnh lý kịp thời những sai sót còn tồn đọng. Theo thông tin từ Bộ GD-ĐT: NXB Giáo dục Việt Nam đã thu hồi để sửa chữa 110.000 cuốn sách, đồng thời phải hủy và in lại 38.000 cuốn sách Khoa học tự nhiên 6 của bộ Kết nối tri thức với cuộc sống và rà soát chỉnh sửa một số lỗi trong các SGK Ngữ văn 6, Lịch sử và Địa lý 6 và một số môn học khác. Điều này nếu không làm rốt ráo sẽ gây lãng phí rất nhiều.
Trong bối cảnh công nghệ khoa học lên ngôi, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là giáo dục. Trước hết, chuyển đổi số tạo ra môi trường học tập linh hoạt và tăng tính tương tác. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, việc dạy và học không còn bị giới hạn trong không gian lớp học truyền thống mà có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi thông qua các nền tảng trực tuyến. Học sinh có thể tiếp cận kho tri thức phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức như video, mô phỏng, bài giảng số… từ đó nâng cao khả năng tự học và học tập suốt đời. Bên cạnh đó, chuyển đổi số góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực. Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn tổ chức các hoạt động học tập tích cực, ứng dụng công nghệ để tăng tính tương tác, trải nghiệm và cá nhân hóa việc học. Học sinh được khuyến khích tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phù hợp với định hướng của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Vì vậy, để chuyển đổi số thực sự trở thành “chìa khóa”, cần có sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ và xây dựng hệ sinh thái giáo dục số bền vững.
Cuối năm 2025, Bộ GD-ĐT lấy ý kiến góp ý dự thảo Hướng dẫn triển khai thí điểm nội dung giáo dục AI trong giáo dục phổ thông. Khung nội dung được thiết kế tương ứng với hai giai đoạn giáo dục: Giai đoạn giáo dục cơ bản (bao gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông). Khung nội dung được thiết kế xuyên suốt nhưng phân hóa rõ ràng theo tâm sinh lý lứa tuổi.
Trước khi đi vào nội dung giảng dạy, chúng ta cần trang bị cho học sinh những năng lực cơ bản: hiểu AI là gì, biết dùng an toàn và có trách nhiệm, và phát huy sáng tạo khi tương tác với công nghệ. Thực trạng hiện nay học sinh đang lạm dụng AI trong bài tập về nhà. Điều này cực kỳ nguy hiểm, làm triệt tiêu tư duy độc lập, suy giảm năng lực phân tích và sáng tạo của người học, gần như “tê liệt” khi không có sự trợ giúp. Không thể cấm đoán các em sử dụng AI trong thời đại công nghệ đang rất phổ biến như hiện nay, nhưng thay vào đó thầy cô và cha mẹ tăng cường giáo dục, định hướng cho học sinh sử dụng công nghệ như một công cụ hiện đại một cách thông minh và trách nhiệm. Cần sự giám sát từ cả gia đình và nhà trường, không nên giao thiết bị công nghệ cho con và phó mặc việc học của con cho giáo viên. Làm sao để bảo đảm học sinh dùng thiết bị công nghệ phục vụ vào việc học một cách chính đáng. Đổi mới, “đi tắt đón đầu” là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển, nhưng không nên thực hiện một cách vội vã mà cần được cân nhắc kỹ lưỡng trong những định hướng dài hạn.
Lâm Vũ Công Chính

Bình luận (0)