Tục ngữ là sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân trong quá trình lao động sản xuất và nhận thức thế giới khách quan; trải dài theo trường kỳ lịch sử, nên dấu ấn văn hóa xã hội của dân tộc đã được phản ánh đậm nét trong tục ngữ.

Như ta đã biết, có số ít câu tục ngữ chỉ thuần túy mang một nghĩa đen (nghĩa hiển ngôn), còn phần lớn các câu tục ngữ mang hai lớp nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng; trong đó, nghĩa bóng chính là nghĩa biểu trưng, khái quát của tục ngữ, tuy xuất xứ trên cơ sở nghĩa đen, nhưng về sau lại được dùng chủ yếu. Một trong những câu tục ngữ lưu lại rõ nét dấu ấn văn hóa, hiện còn nhiều tồn nghi về thời gian nó ra đời là câu tục ngữ “Con dại cái mang”. Giải thích chi tiết các thành tố của câu tục ngữ “Con dại cái mang”, từ điển của Viện Ngôn ngữ học giải nghĩa “con” là từ chỉ người hoặc động vật thuộc thế hệ sau, trong quan hệ với người hoặc động vật trực tiếp sinh ra (có thể dùng để xưng gọi), ví dụ như câu tục ngữ: “Con hơn cha là nhà có phúc”; tính từ “dại” đa nghĩa, trong đó nghĩa thứ hai là chỉ tình trạng “không có đủ khả năng suy xét để ứng phó với hoàn cảnh và tránh những hành động và thái độ không nên; trái với khôn”, ví dụ: Xui dại trẻ con. Dại miệng lỡ lời. Con dại cái mang; còn danh từ “cái” gồm có 5 nghĩa, trong đó nghĩa đầu tiên (là một từ cũ) có nghĩa là “mẹ”. Từ “cái” (mẹ) này cũng xuất hiện trong lời người chồng tạm biệt vợ trước lúc đi xa ở bài ca dao tình nghĩa vợ chồng (chỉ mới ra đời khoảng thế kỷ XVIII): “Cái cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non/ Nàng về nuôi cái cùng con/ Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.
“Cái” trong tiếng Việt hiện đại có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ dùng để chỉ người mẹ hoặc sự sinh sôi; trong tiếng Mường (ngôn ngữ gần gũi với tiếng Việt, cùng nhóm Việt – Mường), từ “cái” đọc là “cải/cẩy”, cũng dùng để chỉ con gái, mẹ, hoặc chị. Đồng âm với danh từ “cái” này còn có thành tố “cái” trong các từ ghép: mèo cái, cột cái, rễ cái, ngón cái, sông cái, đường cái… với từ tố “cái” có nghĩa là lớn nhất hoặc chính yếu, thường mang nghĩa tượng trưng cho người mẹ, thể hiện vai trò quan trọng, nhấn mạnh vị trí hàng đầu, trung tâm, bao quát. Tương tự, trong tiếng Việt, thành tố “cả” cũng thể hiện vai trò chủ đạo, quan trọng, quy mô lớn, vị trí cao nhất hoặc đứng đầu trong thứ tự, như các từ: thợ cả (thợ chính), biển cả (biển lớn), sóng cả (sóng lớn), nghĩa cả (nghĩa lớn), anh cả/chị cả (người lớn tuổi nhất)… Cuối cùng, động từ “mang” gồm nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa “nhận lấy để phải chịu lâu dài về sau”, ví dụ như trong các tổ hợp: mang ơn; mang nợ; mang tiếng… Tựu trung lại, từ “cái” có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ, nghĩa tương đương với từ “cả” hoặc “mẹ” (người sinh ra, bảo bọc), phản ánh dấu ấn văn hóa đương thời coi trọng vai trò của người phụ nữ/người mẹ. Câu tục ngữ “Con dại cái mang” được coi là rất cổ, ra đời khi vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội được coi trọng, quyền lực và trách nhiệm tập trung ở người mẹ, có liên quan chặt chẽ đến thời kỳ mẫu hệ, khi người mẹ đóng vai trò trung tâm, chịu trách nhiệm chính về con cái và các hành động của chúng, nó phản ánh quan niệm cổ xưa rằng khi con làm sai, mẹ là người gánh chịu hậu quả.
Ngược dòng lịch sử loài người, thuở chế độ quần hôn, con cái chỉ biết mẹ, không rõ cha, dòng dõi và tài sản được thừa kế theo dòng mẹ; trong chế độ thị tộc mẫu hệ mối quan hệ cha-con không xác định, chỉ rõ dòng họ mẹ, người nữ đóng vai trò chính trong kinh tế và đời sống, các bà mẹ chăm sóc chung trẻ em trong thị tộc, hình thành kiểu gia đình “không có cha”. Về sau, khi xã hội phát triển lên hôn nhân đối ngẫu, tuy vai trò người cha bắt đầu hình thành nhưng vị thế quan trọng vẫn còn tiếp tục thuộc về phụ nữ. Hiện nay, dấu ấn chế độ mẫu hệ vẫn còn được duy trì rõ nét trong hôn nhân và gia đình ở một số dân tộc thiểu số tại Việt Nam, nổi bật là dân tộc Chăm ở Nam Trung bộ và các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên như: Êđê, J’rai, Chăm, M’nông, Raglai, Xơ Đăng, Giẻ Triêng… Ở đó, phụ nữ làm chủ gia đình, quản lý tài sản, thừa kế và quyết định các việc lớn, con cái mang họ mẹ và con gái bắt chồng.
Bàn về ý nghĩa của câu tục ngữ, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành ghi nhận câu tục ngữ khẳng định quan niệm xưa cho rằng trách nhiệm nuôi dạy con cái là ở người mẹ, còn người cha thì không có trách nhiệm gì; khác với hiện nay cả cha lẫn mẹ đều có trách nhiệm về con cái của mình, khi con cái làm điều gì không hay thì cha mẹ đều cùng phải chịu mọi điều tiếng.
Tóm lại, “Con dại cái mang” là di sản ngôn ngữ phản ánh dấu ấn của chế độ mẫu hệ, nơi mẹ là người gánh vác chính cho các hành vi của con cái, điều này hợp lý với quan niệm của thời trung đại về trước, như có thể thấy thể hiện trong một câu tục ngữ khác là “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Về sau, khi kinh tế phát triển và nam giới đóng vai trò quan trọng hơn trong sản xuất và chiến tranh, xã hội mẫu hệ dần chuyển đổi sang chế độ phụ hệ, xuất hiện một câu tục ngữ có nghĩa tương tự – nhưng quan niệm ngược lại – nhấn mạnh vai trò người cha: “Con mống sống mang” hoặc “Con mống trống mang” (con hành động sai, cha gánh chịu), trong đó tính từ “mống” cũng là một từ cũ có nghĩa là “dại, không khôn ngoan” và “trống” (cùng với “sống” là phương ngữ) là tính từ chỉ giống đực; từ điển Thành ngữ – Tục ngữ giải thích rõ thêm: trong câu tục ngữ cổ “Con mống trống mang”, từ “trống” chỉ người cha. Việc sử dụng cặp thành tố “cái – trống” (mẹ – cha) để chỉ các bậc sinh thành là một dấu ấn ngôn ngữ rất cổ của tiếng Việt, mà hiện nay chúng ta chỉ còn thấy phổ biến khi gọi tên một số động vật như gà trống/sống – gà mái, bò đực – bò cái. Hai câu tục ngữ sóng đôi nhau “Con dại cái mang” và “Con mống trống mang” cùng mang nghĩa: khi con cái làm điều gì sai trái (dại/mống) gây hậu quả thì cha mẹ (trống/cái) phải là người đứng ra gánh vác và chịu trách nhiệm thay.
Câu tục ngữ về quan hệ gia đình “Con dại cái mang” là lời đúc kết kinh nghiệm của ông cha ta tự ngàn xưa, nhằm chỉ việc khi con cái do chưa đủ nhận thức gây ra sai lầm, nghịch ngợm hoặc gây thiệt hại (con dại), thì cha mẹ là người phải gánh chịu hậu quả, tai tiếng hoặc bồi thường (cái mang). Đây là bài học về trách nhiệm nuôi dạy và quản lý con cái. Dù đề cập đến “cái” (mẹ) hoặc “trống” (cha), cặp câu tục ngữ bên cạnh việc phản ánh quan niệm truyền thống về trách nhiệm của cha mẹ đối với hành vi, lỗi lầm của con cái khi chưa trưởng thành, còn mang đậm tính nhân văn, nhấn mạnh tình yêu thương và trách nhiệm vô điều kiện của cha mẹ, đồng thời cảnh tỉnh sự nuông chiều thái quá có thể gây hậu quả xấu. Nó không chỉ nhắc nhở về trách nhiệm pháp lý hay vật chất mà còn khẳng định “con cái là tấm gương phản chiếu cách dạy dỗ của gia đình”, nên cha mẹ cần quan tâm, uốn nắn con từ nhỏ để tránh tình trạng “con dại” mà cha mẹ phải chịu trách nhiệm, điều tiếng về sau.
Hiện nay, trong một số ngữ cảnh cụ thể, ý nghĩa của câu tục ngữ được liên tưởng rộng thêm, nó không hạn hẹp trong phạm vi chỉ trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái mà còn chỉ trách nhiệm của người lãnh đạo, người phụ trách đối với cấp dưới của mình. Do đó, quan niệm “con dại cái mang” vẫn hiện hữu trong đời sống và phù hợp về mặt đạo đức, thể hiện trách nhiệm giáo dục của bậc sinh thành đối với con cái, đồng thời nhắc nhở cha mẹ không nên dễ dãi, đáp ứng mọi đòi hỏi của con trên cơ sở luôn xác định quan điểm đúng đắn: tình thương cần đi đôi với kỷ luật.
Đỗ Thành Dương

Bình luận (0)