Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Tiếng Việt lý thú: Tản mạn từ bài ca dao “xứ Nẫu”

Tạp Chí Giáo Dục

Trong kho tàng văn hc dân gian Vit Nam, bài ca dao dưi đây vi nhiu d bn, đưc xếp vào loi ca dao đi đáp v ch đ tình yêu nam n: Thương chi cho ung công tình,/ Nu v x nu b mình bơ vơ; Bơ vơ, đng ngi bơ vơ,/ Nu v x nu gi thơ cho mình.

Tháp Nhạn (Phú Yên cũ)

“Xứ” là gì? Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, danh từ xứ là từ đa nghĩa, trong đó, liên quan đến trường hợp đang bàn, xứ có nghĩa là nơi, chỗ, khu vực địa lý có chung một số đặc điểm tự nhiên hoặc xã hội nào đó đồng nghĩa với “vùng”, ví dụ: người xứ Nghệ, xứ nóng. Liên tưởng rộng trên cơ sở từ gốc “xứ”, có “xứ sở” là một danh từ Hán Việt, trong đó, xứ chỉ địa phận, khu vực địa lý trong một nước và sở có nghĩa là nơi, chốn. Vì vậy, xứ sở mang ý nghĩa là nơi đang ở, đất nước, quê hương, nơi mình sinh ra, đồng nghĩa với vùng đất, vùng miền, lãnh thổ, quê hương…

Theo nhiều tài liệu đáng tin cậy, “xứ” vốn có vai trò là đơn vị hành chính cấp cao (tương đương cấp tỉnh ngày nay) xuất hiện sớm nhất vào năm 1490 thời Lê sơ, khi vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước, đổi tên các đạo thừa tuyên thành xứ (trấn) thừa tuyên (như xứ Thanh Hóa, xứ Nghệ An…). Sang thời Pháp thuộc, sau khi thôn tính toàn bộ Đông Dương, thành lập Liên bang Đông Dương, người Pháp đã chia Đông Dương thành 5 xứ: xứ Bắc Kỳ, xứ Trung Kỳ, xứ Nam Kỳ, xứ Ai Lao (Lào) và xứ Cao Miên (Campuchia). Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Hiến pháp 1946 còn nhắc đến đơn vị “bộ” (tương đương cấp xứ/liên tỉnh) là Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ, trước cuộc cải cách hành chính bãi bỏ cấp này.

Như vậy, cách gọi “xứ” với tư cách đơn vị hành chính đã xuất hiện từ khá lâu trong lịch sử và theo thời gian trở thành danh xưng “xứ”, nhưng về sau nó không còn mang ý nghĩa hành chính nữa mà chỉ các địa phương (có thể gồm nhiều tỉnh) dựa trên sự tương đồng những đặc điểm về văn hóa, xã hội, thiên nhiên cùng các nét đặc trưng của địa phương.

Về xu hướng định danh qua tổ hợp chứa từ “xứ”, phổ biến nhất là các tổ hợp gắn với địa danh viết tắt, còn lưu lại trong nhiều bài ca dao, như: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ; Ai lên xứ Lạng cùng anh/ Bõ công bác mẹ sinh thành ra em”… Trong quan niệm dân gian, từ “xứ” còn nhằm chỉ hướng, lấy Thăng Long làm trung tâm, các vùng đất theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc bao quanh Thăng Long được gọi là: xứ Đông, xứ Đoài (Tây), xứ Nam/Sơn Nam và xứ Bắc/Kinh Bắc. Từ xứ có khi gắn với đặc sản, sản vật địa phương như xứ nhãn lồng (Hưng Yên), xứ vải thiều (Hải Dương), xứ trầm hương (Khánh Hòa), xứ dừa (Bến Tre), xứ ngàn hoa/ngàn thông (Đà Lạt), xứ hoa đào (Đà Lạt, có khi chỉ nước Nhật); gắn với đặc điểm khí hậu thì có xứ sương mù, xứ nóng, xứ lạnh… Về mặt địa lý quốc tế, xứ còn dùng để chỉ một đất nước như “xứ kim chi” (Hàn Quốc), xứ cờ hoa (Hoa Kỳ), xứ mặt trời mọc (Nhật Bản), xứ bạch dương (Nga)… Gần đây xuất hiện một số tổ hợp ghép từ xứ với tên rút gọn một nước để chỉ quốc gia đó, như xứ Đài (Đài Loan), xứ Hàn (Hàn Quốc), xứ Trung (Trung Quốc)…

Tựu trung lại, “xứ” hiện không còn là đơn vị hành chính mà là cách gọi địa phương, vùng miền mang tính văn hóa, lịch sử hoặc địa lý, tùy thuộc theo từng thời kỳ lịch sử như xứ Lạng (Lạng Sơn), xứ Thanh (Thanh Hóa), xứ Huế; ngoài ra, có nhiều xứ mang đặc thù văn hóa, có thể xem đó là một “địa danh dân gian” chỉ một “tiểu vùng văn hóa” gồm nhiều tỉnh, như xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh), xứ Quảng (Quảng Nam và Quảng Ngãi) có chung nét đặc trưng độc đáo trong tổng thể phong phú của nền văn hóa Việt Nam. Khảo sát thêm, ta thấy từ “xứ” phổ dụng ở miền Bắc và miền Trung chứ ít dùng ở Nam bộ so với từ đồng nghĩa “miệt” trong phương ngữ Nam bộ, có lẽ bởi vì vùng đất Nam bộ được người Việt khai phá muộn (diễn ra mạnh mẽ từ thế kỷ XVII, khi các chúa Nguyễn đẩy mạnh chính sách khẩn hoang và xác lập chủ quyền) nên không có hệ thống đơn vị hành chính “xứ” cổ truyền như hai miền kia, khiến từ xứ ít dùng, mà được thay thế bằng những từ có nghĩa tương đương “đất”, “miệt”, nghĩa chung cũng chỉ vùng, khu vực, như đất Gia Định, đất Đồng Nai, miệt Hậu Giang, miệt U Minh, miệt thứ, miệt vườn, miệt ruộng…

Tiếp tục tìm hiểu từ “nẫu” được sử dụng đến 4 lần trong bài ca dao, theo từ điển phương ngữ tiếng Việt, có gốc từ từ “nẩu” (dấu hỏi) vốn xuất phát từ từ “nậu” (một từ cổ trong phương ngữ Trung bộ, để chỉ một nhóm người theo ngành nghề hoặc theo nơi ở) với nghĩa “dùng chỉ chung một hay nhiều người nào đó, như bạn, bọn, họ”. Ngược dòng lịch sử đất nước, vào năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn Biên quan đưa lưu dân nghèo vào khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả, hình thành làng mạc, sau lập phủ Phú Yên với các đơn vị hành chính cơ sở cấp nhỏ hơn phủ là “nậu”; tiếp theo, năm 1653, Hùng Lộc hầu vào mở cõi đất Khánh Hòa ngày nay thì không còn đơn vị hành chính nậu. Có lẽ do vậy, phương ngữ từ Khánh Hòa trở vào không thấy tồn tại từ nậu. Về sau, cụm từ “nậu ấy” được gộp thành “nẩu”, theo quy tắc rút gọn hai tiếng thành một, kết hợp biến thanh tiếng gốc thành thanh hỏi, như: ông ấy, bà ấy thành “ổng”, “bả”; anh ấy, chị ấy được thay bằng “ảnh”, “chỉ”; ngoài ấy, trong ấy thành “ngoải”, “trỏng”… Đồng thời, bởi đặc trưng phát âm của cư dân vùng Nam Trung bộ không phân biệt rạch ròi dấu hỏi với dấu ngã, nên “nẩu” (thanh hỏi) dần được phát âm thành “nẫu” (thanh ngã). Nói nôm na, từ “nẫu” (có nghĩa là họ/người ta, là đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số nhiều và đôi khi cũng dùng để chỉ ngôi thứ ba số ít) là tiếng địa phương hai tỉnh Bình Định – Phú Yên cũ (nay thuộc Gia Lai, Đắk Lắk). Tuy cách nhau bởi đèo Cù Mông, hai địa phương này có quan hệ mật thiết từ thời là phủ Quy Nhơn và đạo Phú Yên, dân cư có giọng nói gần giống nhau và sử dụng phổ biến từ “nẫu”, nên danh xưng “xứ Nẫu” là cách gọi thân thương chỉ chủ yếu hai địa phương này, cùng một phần địa phận Quảng Ngãi, Khánh Hòa lân cận. Danh xưng “xứ Nẫu” không chỉ định danh mà còn chứa đựng ý nghĩa tinh thần và dấu ấn lịch sử lâu đời của vùng đất này.

Trở lại với bài ca dao mang đậm bản sắc văn hóa, ngôn ngữ vùng đất xứ Nẫu, đó là lời đối đáp nam – nữ: cô gái bộc lộ nỗi âu lo, hoài nghi, băn khoăn, day dứt và dự cảm về một tình yêu dang dở, không trọn vẹn của người thương, vừa mới quen đã sớm chia xa, khi “nẫu” hồi cố hương, về xứ của họ, bỏ lại mình bơ vơ, lẻ loi, biết có ngày gặp lại, liệu “nẫu” có phôi pha tình cảm, quên lời hẹn ước? Đối lại, chàng trai ngỏ lời an ủi, động viên, củng cố niềm tin, khẳng định tình cảm sắt son, bền chặt, thủy chung của mình.

Đến đây, người viết chợt phát hiện một điểm độc đáo, có một không hai, là trong tất cả các danh xưng “xứ” đang lưu hành, chỉ duy nhất có tên gọi xứ Nẫu là không gắn với địa danh, địa lý hay đặc sản địa phương mà gắn với thổ ngữ bản địa Bình – Phú đặc thù. Dù hai địa phương có đôi chút khác biệt trong ngữ điệu, nhưng chất giọng, phương ngữ và lối diễn đạt mộc mạc, thẳng thắn của cư dân xứ Nẫu đã kết nối ngôn ngữ Bình – Phú thành một thứ “tiếng Nẫu” hồn hậu đầy bản sắc dễ nhận biết. Vì thế, nhắc đến “xứ Nẫu”, người ta không chỉ đơn thuần nghĩ đến cái tên của dải đất ven biển trải dài từ đèo Bình Đê vào đến đèo Cả, mà còn liên tưởng đến cả một không gian văn hóa giàu bản sắc, hấp dẫn: dân cư tính cách chân chất, bộc trực và nghĩa tình, nổi bật với nghệ thuật truyền thống tuồng (hát bội) và bài chòi, sở hữu nhiều danh thắng kỳ thú thu hút hàng triệu du khách mỗi năm như: Kỳ Co, Eo Gió, đồi Thi nhân Hàn Mặc Tử, đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa, tháp Nhạn, mũi Điện, Vũng Rô… cùng nền văn hóa ẩm thực phong phú và đậm đà hương vị biển cả.

Từ một danh xưng dân dã được ghi lại qua bài ca dao, “xứ Nẫu” nay đã trở thành biểu tượng của vùng đất dọc dài duyên hải Nam Trung bộ với bản sắc đặc trưng, không thể trộn lẫn về con người và văn hóa.

Đ Thành Dương

 

Bình luận (0)