Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Tô Hoài – Người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương

Tạp Chí Giáo Dục

Nhà văn Tô Hoài (1920-2014), tên tht Nguyn Sen, là mt trong nhng cây bút ln ca văn hc Vit Nam hin đi. Văn chương Tô Hoài gin d, giàu cht đi sng, kết hp nhun nhuyn gia hin thc và cht tr tình…

Từ điển Văn học (bộ mới, NXB Thế giới mới, 2004, tr.1749, phần biên soạn của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Huệ Chi) đánh giá về Tô Hoài như sau: “Năng lực quan sát và miêu tả tinh tường, sắc nhạy, vốn hiểu biết đời sống và phong tục các dân tộc khá phong phú, lối văn giàu hình ảnh và biến đổi nhịp điệu nhanh hoạt, những tìm tòi sáng tạo mới mẻ độc đáo về từ ngữ, về phương ngữ… có thể coi đó là những nét nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài góp vào văn xuôi hiện đại Việt Nam”.

Truyn loài vt – triết lý nhân sinh nh nhàng, sâu sc

Với mảng đề tài viết về loài vật, Tô Hoài để lại một trước tác vô cùng phong phú. Tác phẩm tiêu biểu viết về loài vật là Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), viết về nhân vật chính là Dế Mèn, cùng thế giới các loài côn trùng được nhân hóa sống động. Tác phẩm kể lại hành trình trưởng thành, từ ngông cuồng đến biết sống có trách nhiệm của thanh niên buổi ấy. Trong lời NXB cuốn Dế Mèn phiêu lưu ký (NXB Măng non, 1981, tr.5) có viết: “Dế Mèn là một hình ảnh đẹp, tích cực, giàu lý tưởng trong xã hội lúc đó, khi mà các thế lực thống trị Nhật – Pháp đang siết chặt xiềng xích áp bức dân ta và trên thế giới”. “Không chịu nổi cảnh sống quanh quẩn, tù túng, tầm thường, chú Dế Mèn của chúng ta cất bước ra đi tìm ý nghĩa của cuộc đời”. Dế Mèn phiêu lưu ký đã được in ra nhiều thứ tiếng trên thế giới trước đây, như: Nga, Rumani, Ba Lan, Mông Cổ, Nhật Bản, Nam Tư, Ấn Độ, Miến Điện, Đức, Pháp… Các truyện O Chuột (1942) là truyện đồng thoại về loài chuột, khắc họa đời sống loài vật gắn với xã hội loài người. Trê Cóc (1943) kể chuyện về các loài sống dưới nước, mang màu sắc dân gian, hài hước. Ngoài ra còn nhiều truyện ngắn đồng thoại khác in rải rác trong các tập truyện thiếu nhi đều lấy thế giới tự nhiên làm không gian nghệ thuật.

Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.

Ngưi lưu gi “hn Hà Ni” qua tùy bút, bút ký

Bên cạnh truyện thiếu nhi, Tô Hoài còn được xem là bậc thầy về thể loại tùy bút – bút ký, đặc biệt khi viết về Hà Nội. Ông đã góp phần tạo nên một phong cách tùy bút hiện đại, giàu chất đời sống và ký ức văn hóa đô thị. Các tác phẩm tùy bút – bút ký tiêu biểu (đặc biệt về Hà Nội) của Tô Hoài như: Chuyện cũ Hà Nội (1994), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Cát bụi chân ai (1992, hồi ký với nhiều trang viết sâu sắc về Hà Nội văn nghệ sĩ), Nhớ Hà Nội (nhiều bài in rải rác). Và các tác phẩm văn xuối khác như Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Tự truyện (1978)… Trong đó, Chuyện cũ Hà Nội và Hà Nội trong mắt tôi được xem là đỉnh cao của thể loại tùy bút viết về đô thị.

Đóng góp về phong cách tùy bút – bút ký của Tô Hoài là rất lớn. Ông được coi là người lưu giữ “ký ức Hà Nội” bằng văn chương. Tô Hoài ghi lại nếp sống, phong tục, tiếng nói, hàng quán, phố phường Hà Nội xưa để biến nó trở thành “bảo tàng sống” của văn hóa Thăng Long. Lối viết văn của ông giàu chất tự sự kết hợp ký ức cá nhân. Ông không chỉ tả cảnh mà kể chuyện người thật, việc thật, hòa quyện giữa hồi ức riêng và lịch sử chung của thành phố. Giọng điệu trong các tác phẩm này cho thấy sự ung dung, thư thái, tinh tế và giàu khẩu khí Hà Nội. Vừa hóm hỉnh, vừa trầm tư, giàu hoài niệm. Chỉ riêng cuốn Chuyện cũ Hà Nội, trong lời giới thiệu, Nguyễn Vinh Phúc viết: “… Có thể coi là một tập điều tra xã hội học về Hà Nội thời nửa đầu thế kỷ XX bằng văn chương. Bất luận bạn đọc ở giới nào cũng có thể tìm được những điều mình cần biết mà chưa biết. Chuyện cũ Hà Nội được giải thưởng Thăng Long cũng vì lẽ đó” (Chuyện cũ Hà Nội, Tô Hoài, NXB Hà Nội, 2003, tr.10).

Nhng giai thoi thú v v nhà văn Tô Hoài

Nhà văn Tô Hoài không chỉ để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, mà còn có rất nhiều giai thoại thú vị về cuộc đời và sáng tác, phản ánh một cá tính nghệ sĩ hóm hỉnh, cần mẫn và gắn bó sâu nặng với đời sống.

Một, giai thoại “Dế Mèn ra đời từ… trò nghịch đất”: Thuở nhỏ, Tô Hoài sống ở làng Nghĩa Đô ven Hà Nội. Ông mê quan sát côn trùng, thường đào hang dế, nuôi dế đá nhau. Những trò chơi trẻ con ấy sau này trở thành vốn sống quý giá để ông viết Dế Mèn phiêu lưu ký. Ông từng nói vui: “Tôi viết Dế Mèn vì hồi bé nghịch đất nhiều quá”. Đây là giai thoại cho thấy tác phẩm lớn bắt nguồn từ trải nghiệm đời thường.

Nhà văn Tô Hoài đưc trao nhiu gii thưng danh giá, như Gii thưng H Chí Minh v văn hc ngh thut năm 1996. Nhân dp k nim 1.000 năm Thăng Long – Hà Ni (2010), Tô Hoài đưc trao gii “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Ni” (Love for Hanoi award) – mt gii dành cho nhng cá nhân có đóng góp ni bt trong vic sáng tác, nghiên cu, hay qung bá v Th đô Hà Ni, bi ông đã viết hơn 30 tác phm v Hà Ni và có nh hưng sâu sc ti hình nh, văn hóa ca thành ph trong văn hc Vit Nam.

Hai, giai thoại “nhà văn mê đi bộ”. Tô Hoài rất thích đi bộ khắp Hà Nội. Ông bảo: “Muốn viết về Hà Nội thì phải đi bằng chân, không thể ngồi bàn mà tưởng tượng”. Nhờ những cuộc lang thang ấy, ông nhớ từng ngõ nhỏ, từng quán nước, từng giọng rao. Sau này, các tùy bút Hà Nội của ông đầy ắp chi tiết sống động chính từ những bước chân đó.

Ba, giai thoại về trí nhớ phi thường. Nhiều bạn văn kể rằng Tô Hoài nhớ gần như tuyệt đối những câu chuyện cũ, người cũ, địa danh cũ của Hà Nội. Chỉ cần nghe nhắc một cái tên, ông có thể kể lại cả một giai thoại dài. Vì thế, nhiều người gọi ông là: “Kho tư liệu sống của Hà Nội”.

Ngoài ra, các giai thoại về tính cách hóm hỉnh: “Viết lâu thì thành thói quen. Không viết thì ngứa tay”. Câu nói này trở thành giai thoại quen thuộc trong giới văn nghệ. Hay giai thoại về tình bạn văn chương với Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng… Trong hồi ký Cát bụi chân ai, ông kể nhiều câu chuyện “hậu trường đời sống văn nghệ sĩ” Hà Nội trước Cách mạng tháng 8 với những trang hồi ức được xem như “biên niên sử văn chương” sống động. Khi đã ngoài 90 tuổi, Tô Hoài vẫn tự viết mỗi ngày. Ông nói: “Còn viết được là còn sống”.

Trn Ngc Tun

Bình luận (0)