TP.HCM có tiềm năng rất lớn phát triển khu công nghiệp (KCN) sinh thái nhờ định hướng chiến lược, quỹ đất mới, sự chuyển đổi của các KCN hiện hữu, cùng với sự hỗ trợ về chính sách và hạ tầng… Để thực hiện mục tiêu này thành công, TP cần chuyển đổi xanh, thu hút các nguồn lực sản xuất với công nghệ hiện đại, đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng công nghệ cao…

Nhiều lợi ích khi thực hiện khu công nghiệp sinh thái
Bà Lê Thanh Thảo – Trưởng đại diện Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) – cho rằng, khi đang bước vào một giai đoạn phát triển mới sau sáp nhập, TP.HCM trở thành vùng công nghiệp liên kết lớn nhất Việt Nam. Điều này không đơn thuần là sự mở rộng về quy mô quản lý, mà là mở ra những cơ hội chiến lược chưa từng có, từ quy hoạch từng khu đơn lẻ tiến tới quy hoạch liên vùng thống nhất, từ mô hình phát triển truyền thống hướng đến mô hình công nghiệp sinh thái – thông minh – tuần hoàn và carbon thấp. Và từ cách tiếp cận dựa vào nguồn lực nội tại chuyển sang thu hút tài chính xanh, công nghệ cao và dòng vốn đầu tư bền vững.
Hơn 10 năm qua, UNIDO đã và đang đồng hành cùng Việt Nam triển khai Chương trình KCN sinh thái, trong đó có KCN Hiệp Phước, TP.HCM. Qua hỗ trợ kỹ thuật cho KCN Hiệp Phước, tổng số tiền tiết kiệm được từ chuyển đổi mô hình là gần 66 tỷ đồng, tiềm năng giảm phát thải 22.845 tấn CO2 tương đương hằng năm, tiềm năng tiết kiệm điện là 32.598MWh/năm và tiết kiệm nước là 215.732m3/năm.
Các chuyên gia kinh tế đánh giá, việc áp dụng mô hình KCN sinh thái đem lại nhiều lợi ích như lợi ích về kinh tế, tạo động lực tăng trưởng mới, bền vững; hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp liên kết chia sẻ phụ phẩm, năng lượng, xử lý chất thải chung giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất. Từ đó, tạo nền tảng để TP.HCM mở ra ngành nghề mới như tái chế, thu hồi năng lượng, dịch vụ tư vấn môi trường, kinh tế tuần hoàn.
KCN sinh thái giúp giảm phát thải khí nhà kính, phù hợp cam kết phát thải ròng bằng 0 năm 2050. Xử lý chất thải theo hệ thống tập trung, giảm áp lực lên tài nguyên nước, đất, không khí. Tăng tỷ lệ tái sử dụng và tái chế thông qua mô hình cộng sinh công nghiệp. Từ đó góp phần cải thiện chất lượng sống cho cộng đồng dân cư xung quanh, tạo khu vực sản xuất sạch, an toàn, minh bạch.
Ông Lê Văn Thinh – Phó Trưởng ban, Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM – cho biết, ngoài mô hình KCN sinh thái ở KCN Hiệp Phước, TP còn có các mô hình nghiên cứu KCN kiểu mẫu/KCN thông minh tại Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) và mô hình KCN sinh thái tại Bình Dương (cũ) qua đó đã thúc đẩy cho mục tiêu phát triển bền vững.
“Mặc dù mô hình KCN sinh thái sở hữu tiềm năng phát triển lớn nhưng lộ trình chuyển đổi thực tế đang vấp phải nhiều rào cản. Thách thức lớn nhất đối với các nhà đầu tư là chi phí mua sắm máy móc và đổi mới công nghệ quá cao. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu vận hành các mô hình “cộng sinh công nghiệp”. TP.HCM đang nỗ lực tìm cách tháo gỡ những khó khăn này để phát triển KCN sinh thái. TP cố gắng giải quyết dứt điểm các vướng mắc của những dự án, khu đất tồn đọng, tạo mặt bằng sạch và cơ sở pháp lý ổn định cho hạ tầng công nghiệp. TP cũng phối hợp chặt chẽ với UNIDO để xây dựng bộ tiêu chí cụ thể về giảm phát thải carbon và kinh tế tuần hoàn, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. TP cũng tổ chức các diễn đàn hỗ trợ pháp lý để cập nhật quy định mới nhất về hạ tầng KCN, giúp nhà đầu tư nắm bắt các ưu đãi về chuyển đổi xanh”, ông Thinh thông tin.
Cần chuyển đổi sớm
Ông Trần Xuân Tùng – Trưởng phòng Quản lý Khu kinh tế, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính – cho rằng, phát triển KCN sinh thái không chỉ là yêu cầu từ bên ngoài (EU, Mỹ, Nhật) mà còn là đòi hỏi tự thân của doanh nghiệp để tồn tại trong thời kỳ carbon thấp. Nếu không chuyển đổi, doanh nghiệp TP.HCM cũng như Việt Nam có nguy cơ rời chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong ngành thép, dệt may, nhựa, hóa chất, điện tử. Nếu chuyển đổi sớm, doanh nghiệp sẽ giữ vững thị trường xuất khẩu, nâng giá trị thương hiệu, thu hút đầu tư chiến lược và giảm chi phí vận hành dài hạn.
Muốn phát triển KCN sinh thái, Nhà nước cần hoàn thiện các văn bản và hướng dẫn thực hiện KCN sinh thái; tăng cường cơ chế phối hợp liên bộ giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan cho KCN sinh thái, lồng ghép các giải pháp KCN sinh thái, phát triển hạ tầng xanh trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội tại các địa phương theo định hướng, lộ trình về phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, lộ trình phi carbon hóa của Chính phủ. Song song đó, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho các KCN để hoàn thành việc chuyển đổi sang KCN sinh thái và xây dựng các KCN sinh thái mới, hoàn thiện việc xây dựng hạ tầng xanh cho sản xuất công nghiệp.
Cần tăng cường các hoạt động tập huấn, đào tạo, nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN và doanh nghiệp thứ cấp thực hiện KCN sinh thái; đẩy mạnh hoạt động truyền thông nhằm lan tỏa việc thực hiện mô hình KCN sinh thái. Song song đó cần tăng cường huy động các nguồn lực từ các nhà tài trợ, tổ chức quốc tế, quỹ tài chính khí hậu, các đối tác chuyển đổi năng lượng, ngân hàng thương mại và khu vực tư nhân nhằm thu hút thêm nguồn lực đẩy nhanh hơn quá trình triển khai KCN sinh thái, phát triển hạ tầng xanh.
Theo ông Andri Meier – Phó Trưởng ban Hợp tác – Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Việt Nam, hiện nay toàn cầu phải đối mặt với hai thách thức lớn, đó là duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và giảm lượng khí thải carbon. Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng và là trung tâm sản xuất nên cũng nằm trong thách thức đó. Vì vậy, việc chuyển đổi các KCN là cách hiệu quả nhất để đảm bảo các khoản đầu tư bền vững và tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu.
Chính phủ Thụy Sĩ tài trợ dự án Chương trình Toàn cầu về KCN sinh thái (GEIPP) Việt Nam và đã hỗ trợ mạnh mẽ quá trình chuyển đổi công nghiệp xanh của Việt Nam trong thập kỷ qua để Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Cụ thể, KCN Hiệp Phước, TP.HCM là mô hình thành công của KCN sinh thái với nhiều kết quả tích cực trong việc giảm sử dụng tài nguyên và chi phí, giảm lượng khí thải carbon. Việc mở rộng mô hình KCN sinh thái đòi hỏi cách tiếp cận rõ ràng và có hệ thống. Điều này có nghĩa là đưa mô hình KCN sinh thái vào quy hoạch đô thị chung của TP.HCM, đồng thời tăng cường áp dụng các chính sách và quy định như Nghị định số 35 quy định về quản lý KCN và khu kinh tế, Thông tư số 05 hướng dẫn xây dựng KCN sinh thái và quan trọng nhất là thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân để mở rộng mô hình này trên nhiều KCN.
Hậu Giang

Bình luận (0)