Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Từ Bát tuấn đồ đến Mã đáo thành công

Tạp Chí Giáo Dục

Đón chào năm mi, ngưi ta thưng tng nhau bc tranh v đàn nga mnh m, tràn đy sinh lc đang phi nưc đi; ngày Tết, chúng ta cũng thưng chúc nhau “Mã đáo thành công”. Vy bc tranh và li chúc có quan h gì vi nhau?

Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân (tranh dân gian Việt Nam) 

Chúng ta thường thấy, bức tranh “Mã đáo thành công” vẽ đàn ngựa gồm có 8 con – không yên cương – đang dũng mãnh phi nước đại. Tranh này thoạt tiên có tên là “Bát tuấn đồ” (tranh tám con ngựa tốt), có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa. Trong xã hội Trung Hoa đương thời, ngựa là tài sản quý, chỉ có những người thuộc tầng lớp thượng lưu, giàu có mới sở hữu được, nên hình ảnh 8 con ngựa phi nước đại trong bức tranh là biểu tượng cho gia thế và sự vinh hiển của chủ nhân. Tương truyền Chu Mục Vương, vị vua thứ năm của nhà Chu, nổi tiếng không chỉ vì tài trị quốc, mà còn bởi ông có đàn ngựa quý gồm 8 con mệnh danh là “bát tuấn” với những cái tên đặc biệt: Xích Ký, Ðạo Ly, Bạch Mã, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu và Duyên Nhĩ; đàn ngựa cùng với cỗ xe “bát mã” do mã phu Tạo Phụ điều khiển, đưa nhà vua vi hành khắp đất nước để thấu hiểu đời sống, nỗi khổ, nguyện vọng của dân chúng cùng tình hình thực tế ở các địa phương, từ đó điều chỉnh chính sách cai trị hiệu quả hơn.

Chữ ghi trên tranh: Bát tuấn đồ

Giá trị của bức tranh được xác lập bởi sự thịnh vượng của đất nước dưới thời Chu Mục Vương; cạnh đó, con số 8 từ Hán-Việt đọc là “bát”, gần âm với tiếng “phát”, gợi liên tưởng đến sự phát đạt – trong văn hóa Trung Hoa được xem là biểu tượng của may mắn, thành công – vì thế bức tranh này còn truyền tải thông điệp về tinh thần vươn lên, ý chí cố gắng năng nổ để đạt được sự thịnh vượng, thái bình trong cuộc sống. Trên bức tranh, cạnh hình ảnh đàn ngựa phi, chúng ta thường thấy đề một trong các cụm từ Hán Việt như “Bát tuấn đồ” (八駿圖: tranh tám con ngựa tốt); “Bát mã truy phong” (八馬追風: tám con tuấn mã phi nước đại) vẽ đàn ngựa đang mạnh mẽ phóng nhanh, thể hiện tốc độ và ý chí vượt qua mọi thử thách; “Bát mã bôn đằng” (八馬奔騰: tám con ngựa phi nhanh như vũ bão) thể hiện sức mạnh, sự đoàn kết và khí thế mạnh mẽ, và cụm từ được sử dụng phổ biến nhất là “Mã đáo thành công” (馬到成功: ngựa vừa đến đã thành công); các cụm từ đề tranh này đều mang ý nghĩa chung cầu chúc cho gia đình chủ nhân luôn đoàn kết, thành công, may mắn, tài lộc và thịnh vượng.

Vua Quang Trung và chiến mã (tranh dân gian Việt Nam)

Tám con ngựa trong bức tranh “Mã đáo thành công” đang phi nước đại về phía trước, nhưng một điểm đặc biệt là luôn có một con ngựa quay đầu lại trong khi vẫn tiếp tục chạy, bởi vì ngựa là loài động vật có tính bầy đàn cao, và hành động quay đầu lại của con ngựa chính là nhằm khích lệ những con ngựa khác trong đàn tiếp tục vượt lên, phi mạnh mẽ hơn. Do đó, bức tranh “Mã đáo thành công” đặc biệt còn có ý nghĩa thể hiện tinh thần đoàn kết và sự gắn bó giữa mọi thành viên trong gia đình, cộng đồng, động viên, thúc giục mọi người cùng nhau tiến về phía trước, cùng thăng tiến trong sự nghiệp và cuộc sống.

Ngoài bức tranh ra, câu chúc “Mã đáo thành công” cũng có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa cổ đại, bắt nguồn từ câu ngạn ngữ “Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công”, thể hiện mong muốn thắng lợi sẽ đến nhanh chóng như hình ảnh cờ phất lên báo hiệu chiến thắng và ngựa quay về mang tin thắng lợi, tượng trưng cho sự thuận lợi, may mắn khi trở về từ chuyến đi xa, hoặc chiến mã từ trận mạc quay về báo tiệp. Khi du nhập sang nước ta, nó được rút gọn nên thành ngữ Hán-Việt “Mã đáo thành công”, có nghĩa là “giành chiến thắng/thắng lợi nhanh chóng, ngay khi chiến mã vừa đến”. Thành ngữ kết hợp với tranh “Mã đáo thành công” vẽ 8 con ngựa, số 8 Hán-Việt “bát” (八) đọc gần âm với “phát”
(發) mang ý nghĩa phát tài, phát lộc, phát triển, nên ý nghĩa của bức tranh kèm lời đề từ gửi gắm mong muốn gia chủ sẽ đạt được thành công trong sự nghiệp và cuộc sống. Cho nên ngày Tết, khi tặng nhau bức tranh “Mã đáo thành công” khách ngụ ý gửi đến gia chủ lời chúc đầy ý nghĩa về năm mới thuận lợi, may mắn, tài lộc và thăng tiến trong sự nghiệp; tranh cũng phù hợp cho những dịp khai trương, tân gia hoặc chúc người đi làm ăn xa.

Tranh dân gian Việt Nam (chữ ghi trên tranh: Mã đáo thành công)

Có nhiều phiên bản thể hiện số ngựa khác nhau trong tranh “Mã đáo thành công”: tranh một con ngựa (tuấn mã): biểu thị thành công đột phá trong sự nghiệp; bức hai con ngựa (song mã) mang ý nghĩa tình yêu đôi lứa, sự cân bằng và hòa hợp trong hôn nhân; tranh 6 con ngựa (lục mã) cầu chúc cho sự may mắn, rước lộc vào nhà, hóa giải vận xui; tranh 9 con ngựa (cửu mã) mang ý nghĩa trường tồn, phát triển bền vững…

Tựu trung lại, tuy trong thực tế tranh “Mã đáo thành công” có nhiều phiên bản khác nhau, nhưng phiên bản 8 con ngựa tự do không yên cương, mạnh mẽ phi nước đại tràn đầy sức sống tượng trưng cho sức mạnh vượt trội là phiên bản phổ biến và được ưa chuộng nhất ở nhiều nước – trong đó có Việt Nam – vì nó mang ý nghĩa phong thủy sâu sắc và gắn liền với truyền thuyết “bát tuấn” của Chu vương.

Có nhiều họa sĩ vẽ tranh ngựa, tuy nhiên, trong lịch sử hội họa Trung Quốc, một trong những họa sĩ kỳ tài về vẽ ngựa là đại danh họa Từ Bi Hồng (1895-1953) với phong cách đặc trưng tiêu biểu kinh điển: ngựa phi dũng mãnh, nổi rõ cơ bắp, tư thế đa dạng, bố cục 8 con ngựa với các dáng chạy dồn về trung tâm, nét mực nho mềm mại, nhiều mảng mực loang theo kiểu bút pháp Tây-Trung. Từ Bi Hồng đã sử dụng kỹ thuật hội họa phương Tây, dung hợp phương pháp tạo hình châu Âu với lối ước lệ của nghệ thuật truyền thống Trung Hoa, vận dụng kỹ thuật và tả thực tạo nên các họa phẩm kiệt xuất về ngựa.

Ở Việt Nam, ngựa là một trong số những loài vật được thể hiện khá sinh động qua tranh, tượng dân gian; chúng hiện diện phong phú, đa dạng với đủ mọi hoạt động, hình thế trên phù điêu gỗ, đá ở những đền miếu, trong các đồ thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là trên tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống. Từ cuối thế kỷ XVII, tranh tuấn mã đứng dưới lọng đã ra đời ở cung đình, về sau được lan tỏa, phổ biến rộng rãi trong dân gian, trở thành tranh thờ cúng, hình ảnh ngựa được nâng lên thành một hình tượng nghệ thuật có tầm vóc ngang hàng với những linh vật khác được tôn thờ ở Việt Nam. Với ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị biểu tượng cao, hình tượng ngựa có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng và tích cực trong đời sống văn hóa Việt Nam.

Hoàn toàn khác biệt với tranh ngựa Trung Hoa, phong cách tranh ngựa Việt Nam thể hiện qua hình tượng độc mã chứ không phải ngựa đàn, đó là những tuấn mã – chiến mã khỏe khoắn, dũng mãnh, đầy đủ yên cương, tĩnh tại dợm bước thể hiện sự điềm tĩnh, an yên, vững chãi chứ không xô nhau chạy nhảy. Ngoài ra, trong kho tàng nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam còn có hai bức tranh ngựa nổi tiếng gắn liền với những chiến công hiển hách, oanh liệt của cha ông ta trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm là tranh “Vua Quang Trung và chiến mã” gợi nhắc đến chiến thắng lịch sử đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789) của Nguyễn Huệ và tranh “Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân” với hình ảnh chú ngựa lửa khí thế oai phong, hùng dũng đạp trên đầu quân giặc đang tan tác thua chạy.

“Mã đáo thành công” – lời chúc quen thuộc ngày Tết – như biểu trưng của tốc độ và tinh thần vươn lên không ngừng, tiếp thêm cho chúng ta sức mạnh, niềm tin và khát vọng đồng lòng tiến bước chinh phục thành công những đỉnh cao mới của hạnh phúc, thịnh vượng; không những phản ánh dấu ấn tâm linh – lịch sử phong phú từ ngàn xưa của dân gian không bao giờ bị mai một, nó còn lưu giữ sâu đậm bản sắc văn hóa dân tộc, trao truyền, bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước trong tâm hồn các thế hệ người Việt trên mọi miền đất nước và kiều bào xa xứ trong tâm thức hoài tưởng về nguồn cội mỗi khi Tết đến xuân về.

Đ Thành Dương

 

 

 

 

Bình luận (0)