Giữa văn tự và thư pháp có những điểm khác biệt tương đối. Nếu làm rõ điều này, thiết nghĩ nó sẽ mang lại một cách nhìn khác đối với phong trào thư pháp Việt hiện nay.

Thư pháp Việt như rồng bay phượng múa hiện nay
1.“Chữ” hay “chữ viết” ra đời với chức năng làm công cụ ghi chép lời nói (ngôn ngữ). Bởi thế người sử dụng chữ viết, hết đời này đến đời khác luôn hướng nó vươn tới sự chuẩn mực và tính quy phạm. Có như thế nó mới đủ khả năng hoàn thành vai trò của mình. Nhưng khi chữ viết phát triển đến một giai đoạn hoàn thiện rồi, thì người viết chữ có thêm nhu cầu sử dụng nó theo hướng trệch chuẩn, cách điệu hóa, hình tượng hóa để nó thực hiện thêm những chức năng khác – chức năng giải trí, chức năng thẩm mỹ. Hai hướng phát triển và hành chức của chữ viết song song với nhau và có tính độc lập tương đối, tuy chúng có chung điểm xuất phát. Hướng phát triển thứ hai lâu nay, người Việt chúng ta quen gọi là thư pháp. Như vậy giữa văn tự và thư pháp có những điểm khác biệt tương đối. Nếu làm rõ điều này, thiết nghĩ nó sẽ mang lại một cách nhìn khác đối với phong trào thư pháp Việt hiện nay.
Khi bàn về thư pháp truyền thống, thì phải nhắc đến hai thuật ngữ quan trọng, không thể thiếu đó là Thế và Lực. Nói đến Thế (勢) và Lực (力) tức là nói đến phương thức tạo thư pháp. Người ta hay nói đến bút lực và thư thế (hay bút thế) là nói đến chỗ khác nhau giữa văn tự và thư pháp. Văn tự thì không cần nói đến Thế hay Lực lúc thể hiện, mà chỉ cần làm sao để đọc được, biết đó là chữ gì, nghĩa là gì, như vậy là đủ. Còn thư pháp thì chữ viết ra phải “có hồn”, sinh động, có sức sống, hấp dẫn, trông như rồng bay phượng múa, thiên biến vạn hóa. Muốn làm được như thế phải có Thế và Lực. Hay nói cách khác Thế và Lực là những điều kiện tối thiểu để biến văn tự thành thư pháp.
2.Như đã biết, văn tự là công cụ giao tế, là một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, là vật chất. Còn thư pháp là nghệ thuật, là tôn sùng cái đẹp, là tinh thần. Văn tự cần ngay ngắn, chuẩn mực, rõ ràng; thư pháp thì phóng túng, đa dạng không đơn điệu. Văn tự xem việc ghi chép tư duy, truyền bá văn hóa là nhiệm vụ của mình, nó mang tính toàn dân và tương đối ổn định về hình thể trong lịch sử. Chẳng hạn, chữ viết của người thời xưa, các thế hệ sau vẫn đọc hiểu. Còn thư pháp thì lấy việc truyền thụ cái hưng phấn, sự cổ vũ và đặc biệt là việc cảm thụ cái đẹp, làm mục đích. Thư pháp luôn luôn có nhu cầu đổi mới, phản ánh hiện thực thời đại (mang dấu ấn thời đại) của mình, thể hiện xu hướng cá nhân và đặc biệt là phải bộc lộ phong cách riêng của người nghệ sĩ (đây là nhu cầu cực kỳ quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thư pháp nói riêng).
Chúng ta, không nên nhầm lẫn giữa việc đọc văn tự với việc cảm thụ thư pháp. Bởi vì sự lầm lẫn ấy sẽ rất dễ dàng đánh mất hoặc hiểu sai lệch về nghệ thuật thư pháp. Đã có người không hài lòng và chê chữ thư pháp khó “đọc”. Thực ra, đối với thư pháp thì chúng ta chỉ cần cảm nhận, cảm thụ cái phần mỹ thuật của nó, chứ không nhất thiết câu nệ vào việc khó hay dễ “đọc”. Một nhà thư pháp Ả Rập nổi tiếng Moustafa quan niệm việc hiểu nội dung chữ viết trong họa phẩm không có nghĩa bằng ảnh hưởng thị giác mà nó mang lại cho người xem. Vì vậy, ông tin người phương Tây đánh giá tác phẩm của ông đúng đắn hơn người Ả Rập vì họ không phải bận tâm vào việc xem nội dung chữ viết nói gì hay nghĩa là gì. Những người đã từng đọc văn bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, rồi gần đây lại cảm thụ nó qua văn bản thể hiện bằng thư pháp chữ Việt, đều ghi nhận công lao của các nghệ sĩ thư pháp. Họ thực sự đã thổi hồn, đã chắp cánh cho những câu thơ trữ tình của cụ Nguyễn càng bay cao hơn. Hoặc ít ra thì thư pháp chữ Việt cũng đã đem đến một cái gì đó mới mẻ cho một tác phẩm văn chương cổ điển.

Văn tự Hán – Nôm được trưng bày tại các bảo tàng
| Văn tự và thư pháp có sự khác biệt về bản chất, nhưng cũng luôn có sự kết hợp. Sự kết hợp giữa một bên là công cụ, một bên là nghệ thuật: Đó là sự kết hợp của hai loại hình của trí tuệ. |
3.Tuy nhiên, cũng cần phê phán những tác phẩm “ngụy thư pháp”. Đành rằng trong nghệ thuật mọi hoạt động sáng tạo đều không thể phá vỡ “niêm luật”, nhưng nó cũng không thể xa rời những tiêu chí đạo lý nhất định. Người xem sẽ khó chấp nhận một bức thư pháp với toàn những đường nét vung bút đánh đố, thậm chí đánh đố trong khi chính người tạo ra nó cũng không lý lẽ giải thích được vì sao. Nếu chỉ viết để mà viết, tức cho có chữ, hoặc lợi dụng nó như một sân chơi đặng tha hồ múa may những đường nét, đánh đố rối rắm, làm khổ cho người xem, thì quả thật đáng tiếc. Cái đẹp đó phải hàm súc cả chân tâm và thiện mỹ, đồng thời phải được sự đồng thuận của người thưởng lãm.
Trong bối cảnh hiện nay, nghệ thuật thư pháp vừa tạo nên những nét sống đẹp cho nhân sinh, vừa thể hiện được những ý tưởng, kinh nghiệm cổ kim. Nó quả là một môn học tốt, đủ làm phương dược hay để điều tiết tâm hồn con người. Nó giáo dục con người tình yêu dân tộc, đất nước, thêm tự hào về óc sáng tạo của tổ tiên và nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cũng như nhân sinh quan lành mạnh theo một tinh thần nhân văn trong sáng.
Không nghi ngờ gì nữa, rõ ràng thư pháp chữ Việt đã ngấm sâu vào hồn người và nếu chúng ta có ý thức trân trọng, tạo được một sức bật mạnh mẽ, biết giữ gìn và phát huy hẳn nó sẽ không thể không trở thành quốc bảo. Do vậy, để góp phần cho đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú, thăng hoa, thiết nghĩ song song với công việc chuyên luyện tay nghề, tạo nên tính đột phá về thẩm mỹ của các “thư pháp gia”, rất cần có những công trình lý luận phê bình nghiêm túc để giới yêu thích thư pháp chữ Việt có điều kiện tiếp cận cũng như đón nhận nó một cách đích thực.
ThS. Nguyễn Hiếu Tín

Bình luận (0)