Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Về với Cánh Hòm: Kỳ 2: Đôi bờ định mệnh

Tạp Chí Giáo Dục

Đối với những người dân sống bằng nghề nông ven bờ, con sông là cứu cánh cho nghiệp mưu sinh của họ

Ngẫu nhiên hay cố ý, sông Cánh Hòm khởi nguồn, hứng trọn phù sa Thạch Hãn – nơi ghi dấu trận chiến Thành cổ 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972, chảy qua bao làng mạc rồi hòa mình vào dòng Bến Hải ngay tại bến đò B từng đi vào lịch sử dân tộc với 20 năm gánh sứ mệnh “chở cả nước sang sông”…
Chuyện tình chiếu gon
Tôi trở về với dòng sông Cánh Hòm bằng câu chuyện tình cảm động của một người con gái đan chiếu gon ở làng Lâm Xuân, lần đầu tiên dám đánh cược đời mình đi ngược con nước để kết duyên với một chàng trai xứ cói phía bên kia bờ sông. Đôi uyên ương đầu tiên dám đi ngược quy luật bất thành văn suốt 400 năm đằng đẵng. Chị Trang – người con gái năm ấy giờ đã ở vào cái tuổi ngoại ngũ tuần bồi hồi nhớ lại: “Ngày nghe hai đứa trình bày ý nguyện nên duyên chồng vợ cả hai gia đình đều lo lắng. Rồi hai đứa tui cương quyết sướng khổ vẫn theo nhau, cuối cùng ba mẹ đành ưng thuận. Lúc đó tình yêu lớn hơn tất thảy nên tui quên nỗi sợ chứ sau ngày cưới cái lo mới hiện hữu lên từng giấc ngủ”. Tạo hóa đôi khi vẫn không nỡ đưa đẩy số phận một con người đi vào ngõ cụt. Sau nhiều đêm đang ngủ nhớ lại bỗng giật mình thon thót. Trải qua nhiều sóng gió, bây giờ cuộc sống vợ chồng chị Trang diễn ra khá êm đềm. “Có lẽ do cả tui và ông ấy đều lo lắng về lời dặn dò của cha mẹ nên lúc nào cũng nâng niu, trân trọng hạnh phúc của mình cho dù nghèo khó đến đâu”, chị Trang bộc bạch.
Làng đan chiếu Lâm Xuân ở phía thượng nguồn với nghề đan truyền thống gần 400 năm đã có cuộc kết duyên với làng Cam Phổ – nơi có đầm lầy nước lợ thuận lợi cho cây cói phát triển xanh tươi. Hai làng, một trồng cây cói, một làm ra sản phẩm chiếu gon bồi đắp, hỗ trợ nhau trong cuộc mưu sinh nối từ đời này sang đời khác. Theo cụ Trần Thị Nậy (90 tuổi), một người làm nghề chiếu ngót 80 năm: “Thuở xa xưa, vì lời nguyền, con gái không được phép lấy chồng theo con nước ngược, nhưng trên những bãi cói mùa hạ nắng vàng rực đã nảy sinh những mối tình câm lặng đến xót xa”. Mãi cho đến ngày làng nghề vắng bóng nghệ nhân, nghề thất truyền, trong kí ức các cụ già từng ngồi bên khung đan vẫn hoài vọng một thời quá vãng. Thuở đó có một chàng trai đi mua cói vô tình đưa lưỡi dao trúng tổ chim non. Tổ chim vỡ vụn cùng cái run rẩy của chú chim non đã làm rơi nước mắt cô gái bán cói. Từ giây phút ấy, trái tim chàng trai khô dần theo năm tháng dù chưa một lần họ dám vượt giới hạn lệ làng.
Không ai dám khẳng định nguyên nhân làng chiếu thất truyền vì lời nguyền bị phá sau mối lương duyên của chị Trang. Có điều, từ sau ngày hai làng linh đình tổ chức xe duyên cho đôi trẻ không lâu danh tiếng làng chiếu chìm khuất vào dĩ vãng.
Dòng sông tham gia chiến đấu
Câu chuyện tình chiếu gon hai làng Lâm Xuân – Cam Phổ nhuốm màu huyền thoại không đủ chân lý thuyết phục người nghe. Cựu chiến binh Nguyễn Thanh Bình (62 tuổi) – một người lính từng đi qua lằn ranh sống chết mong manh trong 81 ngày đêm Thành cổ khốc liệt dẫn chúng tôi về dòng sông bằng một góc khác, dưới làn mưa bom xối xả của những năm tháng chiến tranh. Trong sâu thẳm lòng người dân đôi bờ Cánh Hòm, con sông là một chứng nhân “đặc biệt”. Ông Nguyễn Thanh Bình giải thích hai từ “đặc biệt” mà quê hương đã gắn cho dòng sông: “Con sông là tuyến đường vận tải lương thực, thực phẩm bí mật của miền Bắc chi viện cho miền Nam. Bởi vậy, đối với người dân, sông như một phần máu thịt của họ. Là linh hồn của cuộc sống. Bà Trần Thị Lành, cô du kích từng tham gia chiến đấu nhiều năm ở Cửa Việt (nơi con sông Cánh Hòm bắt đầu khởi nguồn) nhớ như in: “Từ năm 1966-1972, khu vực biển Cửa Việt thông lên sông Hiếu nơi có con sông Cánh Hòm chảy qua là con đường vận chuyển, tiếp tế hậu cần quan trọng bậc nhất của Mỹ – Quân đội Sài Gòn. Bấy giờ khu vực hai bờ sông Hiếu, đoạn qua đầu sông Cánh Hòm là vùng địch chiếm, tập trung các lực lượng tinh nhuệ của chúng cùng với vũ khí tối tân nhất. Năm 23 tuổi, bà Lành xung phong đảm nhận nhiệm vụ quan trọng đặc biệt làm giao liên cho đoàn bộ đội đặc công nước. Ban ngày, bà cấy cày trên những thửa ruộng dọc bờ bắc sông Hiếu để nắm lịch trình vận chuyển hàng hóa, vũ khí của chúng và vẽ lại mọi sơ đồ cần thiết. Đêm đến, đào hầm bí mật trong vườn và tìm cách báo tin, dẫn đường cho bộ đội đặc công nước đi đánh tàu giặc.
Còn ông Lê Quang Đạo, Đội trưởng Đội thuyền vận tải vũ khí, lương thực từ bến đò B (cửa tử ở vĩ tuyến 17 đi qua sông Bến Hải) đến sông Thạch Hãn để vào Thành cổ nhớ lại: “Việc vận chuyển trên sông Cánh Hòm lúc đầu còn bí mật, sau trở nên rộn ràng, tấp nập. Mỗi lần bị địch phát hiện, bom đạn bốn phía, máy bay gào rít trên đầu, các chiến sĩ vẫn một mực đẩy mạnh tay chèo tiến lên phía trước. Trong thời gian từ trước chiến dịch năm 1972 đến năm 1975, đội thuyền vận tải sông Cánh Hòm đã vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, lương thực, thuốc men tới đích an toàn; và đưa thương binh về tuyến sau…”.
Đất nước hòa bình, người dân dìu nhau về lại đôi bờ sông dựng nếp nhà tranh, bắt đầu cuộc sống mới. Dòng sông lặng lẽ ôm vào lòng mình dấu vết đạn bom, bồi đắp cho cuộc sống cư dân đôi bờ, hàn gắn và xua tan tất cả những mất mát, khiếm khuyết hụt hẫng mà con người phải chịu đựng, trải qua sau cuộc trường chinh cứu nước.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
Kỳ cuối: Bao giờ sông lại hồi sinh?

Bình luận (0)