|
Dòng sông Cánh Hòm một thời gánh sứ mệnh nối đôi bờ Bến Hải và Thạch Hãn, nay bị bồi lấp, nhiều nơi người dân khoanh vùng nuôi vịt |
Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, ngành nông nghiệp Quảng Trị ưu tiên phát triển cây lúa nước hai vụ để ổn định đời sống của bà con nông dân. Hai đập ngăn mặn được đầu tư chặn hai đầu sông Cánh Hòm, biến dòng nước chua phèn mang hơi vị mặn mòi của biển cả trở nên ngọt hóa.
Con nước lớn nhỏ bấy lâu do triều cường của biển bỗng dưng phụ thuộc vào việc đóng mở van đập này. Dòng chảy vì thế cũng yếu dần, đất đai, cây cỏ có cơ hội lấn sông. Dòng sông rộng lớn chẳng mấy chốc bị bồi lấp, nhiều đoạn gần như mất hẳn…
Đau đáu nỗi lòng khi tìm lại dòng sông
Cách đây hơn 10 năm, một lần tình cờ đầy may mắn tôi được theo chân nhà thơ Tạ Nghi Lễ trên hành trình trở về nơi chôn nhau cắt rốn của ông, nơi “Con sông nhỏ một thời tắm mát/ Nơi mối tình đầu tôi đã đánh rơi/ Nơi chốn quê nghèo thương nhớ khôn nguôi…”, để được tận mắt nhìn ngắm dòng sông từng đi vào nốt nhạc mượt mà, đau đáu nỗi nhớ quê của những người con xa xứ. Để rồi hơn chục năm sau đó, chính tôi lại đau đáu nỗi lòng khi một mình tìm lại dòng sông. Ông Nguyễn Toàn, Trưởng thôn Lâm Xuân (Gio Mai) – nơi con sông chảy xuyên qua làng trầm ngâm chỉ tay về phía bạt ngàn cỏ dại, nói: “Sông bây giờ bị bồi lấp gần giống như một con kênh nước cạn”. “Sao người dân không nạo vét lòng sông?” – tôi hỏi. Ông bảo: “Vấn đề kinh phí khó khăn, người nông dân làm đầu tắt mặt tối may ra chỉ đủ ăn. Với lại ngày làm tháng ăn, ai bỏ ra chục ngày công không để lo chuyện giữ sông?”. Thế là sông bị bồi lấp. Một nguyên nhân khác thời đại nông nghiệp hóa, ở hai đoạn sông tiếp nối với Thạch Hãn và Bến Hải, người ta đã xây dựng hai đập ngăn mặn để phục vụ cho sản xuất cây lúa nước. Dòng nước lên xuống trở nên yếu ớt vì phụ thuộc sự đóng mở của van đập.
Lần về thăm lại con sông Cánh Hòm mới đây, tôi tìm gặp cụ Nguyễn Thị Sót ở làng Cam Phổ – một người phụ nữ sống qua ba thế kỉ quẩn quanh bên dòng Cánh Hòm. Ở cái tuổi 105, cụ vẫn còn khá minh mẫn khi kể về những năm tháng mò cua bắt ốc mưu sinh trên dòng sông; nhiều lần tận mắt nhìn thấy thuyền rồng của vua Minh Mạng đi du thuyền bãi cắm Cửa Tùng ngang qua con sông này. “Cái thuở đó, cứ đến định kì hàng quý, người ta còn tập trung làm sạch dòng sông chớ không như bây giờ. Tôm cá vì thế cũng nhiều hơn và bồi sa làm cho cây cối ven bờ xanh tốt hơn bây giờ”. Trong trí nhớ của cụ Sót, những phụ nữ năm xưa vẫn tảo tần theo nhịp chảy con sông, quanh năm mò cua bắt ốc giữa những ngày hè gió Lào rát bỏng. Có lẽ ở miền đất thiên nhiên khắc nghiệt như nơi đây, thì dòng sông như ông Bụt hiền mang dòng nước mát tưới tắm đền bồi cho sự khó nghèo. Hơn chục năm trước, nhiều ngư dân vạn chài vẫn chọn sông Cánh Hòm để neo thuyền, buông câu, thả lưới. Nhưng rồi, cái nhịp sống tấp nập ấy cũng dần biến mất khi dòng sông bị chặn đứng hai đầu nguồn. Ngư dân sống bám vào con sông dường như rơi vào vô vọng. Thi thoảng họ mới tìm đến vào mùa hè cạn nước để kiếm ít cá tôm. Nhiều người chuyển nghề sang bán buôn lặt vặt.
Mong ngày sông được hồi sinh
Bao năm rồi, dòng sông vẫn cứ tuần hoàn một nhịp đời như thế. Mang dòng nước tưới tắm cho bao cánh đồng khô cằn, nứt nẻ vì nắng hạn, làm đổi thay cuộc sống của nhiều người dân đôi bờ. Ngoảnh lại phía sau, năm tháng qua đi, với sự nỗ lực không mỏi mệt của con người, cây đã mọc xanh trên miệng hố bom. Lớp người từng đi qua chiến tranh người còn, kẻ khuất. Công cuộc mưu sinh cùng sự mai một làng nghề khiến nhiều nghệ nhân làng chiếu vắng bóng. Dẫu không còn các buổi chiều, những người phụ nữ dắt tay con ra bờ sông ngóng cha trở về sau chuyến đi cắt cói dài hàng tuần. Kí ức trẻ thơ bây giờ không còn hình ảnh người cha hùng dũng cưỡi đầu bè cói được kết như con rồng lừng lững đi trên sông. Hình ảnh ấy thuộc về quá khứ. Kí ức ấy thuộc của “hồi môn” riêng của một lớp người như thế hệ cố nhà thơ Tạ Nghi Lễ.
Dòng sông bây giờ, nhiều đoạn trơ đáy, cỏ mọc lấn cả đôi bờ, nhiều đoạn người dân khoanh lại nuôi vịt xiêm… thi thoảng vài ngư dân nghèo, sống đời neo vào con thuyền nát đến tìm chỗ trú náu lúc biển cả bão giông… Tôi tần ngần đứng ở ngã ba Bến Ngự (nơi dừng chân nghỉ ngơi của vua Minh Mạng trong hành trình xuôi sông về biển) ngày nào để cố hình dung một phần nhỏ câu chuyện trong kí ức của người lính cảm tử trên chiến trường Thành cổ Nguyễn Thanh Bình: “Những năm chiến tranh ác liệt, bộ đội hàng đêm vượt sông Bến Hải rồi dọc theo sông Cánh Hòm để vào giải phóng miền Nam. Hàng vạn tấn lương thực cũng theo con đường ấy. Khi đường biển gặp lắm hiểm nguy và nằm trong tầm ngắm của Hạm đội 7 của Mỹ trên biển Đông thì sông Cánh Hòm được xem như là con đường sống của quân ta trong quá trình kháng chiến”. Nói đến đó, ông Bình đưa tầm mắt xa xăm tận chỗ khúc sông ngoặt rồi mất hút, buồn mênh mông. Tôi trộm nghĩ, có phải kí ức tuổi thơ xưa cũ với những ngày chăn trâu, cắt cỏ rồi thuở thanh niên ôm súng vượt sông đánh giặc bỗng dưng hiện về trong ông? Hay sự tiếc nuối về những kỉ niệm đã lùi vào dĩ vãng?
Mai này, có lẽ tôi sẽ nhớ về dòng sông không nhiều bằng nhớ ánh mắt người lính từng sinh tử với dòng sông này. Trong ánh mắt của ông Bình, tôi ngẩn người ra bởi câu hỏi: “Con sông nuôi sống những cánh đồng lúa, cho những mùa vàng bội thu. Trong khi miền Trung là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, tại sao người ta không chú trọng việc khơi thông dòng sông để cứu lấy những cánh đồng vàng nhỉ?”. Hẳn ẩn ý của ông Bình bao hàm cả nỗi lòng của một kí ức trẻ thơ từng ngụp lặn trên dòng nước mát đang đau đáu với câu hỏi: Bao giờ sông lại hồi sinh?
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên


Bình luận (0)