|
Các anh thanh niên xung phong đội Lý Nhơn tuần tra trên sông Lòng Tàu
|
Cần Giờ không chỉ là con đường mới được hoàn thành cách đây 2 năm dài hơn 30km cùng khu du lịch “nửa chợ nửa quê” ven bờ biển, mà còn là cánh Rừng Sác rộng 7.500ha bạt ngàn mắm, đước. Và nơi ấy còn có cả tiếng hát, nụ cười của những con người vẫn ngày đêm lặng lẽ giữ màu xanh cho một góc trời thành phố.
1. “Rừng Sác trong chiến tranh từng là căn cứ cách mạng, là chiến khu huyền thoại chứng kiến nhiều trận đánh oanh liệt của bộ đội đặc công. Hiện Rừng Sác trực thuộc quản lý của Xí nghiệp Dịch vụ thanh niên xung phong (TNXP) được phân chia cho 5 đội với 73 nhân viên chăm sóc. Nơi chúng ta sắp tới đây là đội Đỗ Hòa, đội gần nhất nằm trên đảo Ông Đen”, tiếng Vũ – “phát thanh viên” của Công ty Dịch vụ công ích TNXP vang lên trước khi chia phóng viên và cán bộ công ty cho 3 chiếc ghe máy để vượt sông.
Chị Cẩm Hồng, cựu TNXP cùng thời với ông Đen giải thích cho chúng tôi rằng: “Ông Đen là tên gọi của Đội trưởng Phan Tấn Lân, cựu TNXP từng có công khai khẩn hòn đảo này những năm đất nước mới thống nhất. Vì quá đen nên dân chài thời ấy thường gọi là ông Đen. Dần dà, cái tên ấy được thế hệ TNXP sau này đặt tên cho hòn đảo”. Và có lẽ vì “truyền thuyết” đó mà tất cả TNXP ở chốt Đỗ Hòa đều cùng một màu da đen cháy. Anh Nguyễn Phan Thuần, 54 tuổi, “già làng” của chốt tiếp đoàn với vẻ mặt khá nghiêm túc, có lẽ vì lâu ngày mới có người lạ ghé thăm.
– Anh ở đội này bao lâu rồi?
– 23 năm, đi từ hồi mới 19 tuổi.
– Công việc hàng ngày của anh em ở đây là gì?
– Vào rừng chăm sóc cây, canh không cho người dân chặt cây, bắt thú.
– Gia đình anh có mấy cháu?
– Hai, cháu đầu mới học lớp 10.
– Hồi xưa anh quen chị nhà thế nào?”
Câu hỏi bất ngờ và có phần… vô duyên của tôi khiến anh phì cười.
– Hồi đó là nhờ mấy ghe đánh cá, người ta quý nên giới thiệu, chứ tui nhát lắm. Ở rừng hoài chơi với mấy anh em và ghe cá thì biết ai đâu. Gần 40 tuổi mới lập gia đình. May mà còn có người thương.
Tôi bỏ lửng cuộc phỏng vấn, đi vào ngắm cái cơ ngơi được giới thiệu là khang trang nhất của đội mà không khỏi chạnh lòng. Ừ, nhà to thật đấy, sạch sẽ đấy! nhưng ngoài bộ bàn làm việc, bàn ăn cơm, mấy chiếc giường cùng xoong nồi cũ kỹ ra thì chẳng còn gì đáng giá. Tôi chợt nghĩ, tên trộm nào có “lỡ dại” mà bơi thuyền đến “viếng thăm” nơi này có khi còn phải ngậm ngùi vì đời sống của các anh sao mà nghèo nàn quá, chẳng có gì để lấy cả!
2. Mất 2 tiếng để đến với đội Thanh Niên. Thêm 3 tiếng nữa chạy dọc sông Lòng Tàu mới tới được đội Lý Nhơn. Cũng như Đỗ Hòa, Thanh Niên, đặc sản đãi khách nơi đây không gì khác ngoài những trái me cùng dĩa muối ớt. Tôi hỏi: Sao ở chốt nào cũng có cây me vậy anh? “À, ở nơi đất đầy phèn thế này, cây gì mọc được thì cứ trồng thôi. Anh em ở đây cũng có trồng rau, nhưng chỉ trồng được 6 tháng mùa mưa. Mùa khô, hết nước mưa dự trữ, nước ngọt phải mua 800 ngàn/m3, đến tắm còn phải nhịn thì lấy đâu ra mà tưới rau. Người ta bảo “nghèo rớt mồng tơi”, nhưng cây mồng tơi đất này cũng què quặt lắm rồi”, anh Hùng, có 20 năm giữ rừng dí dỏm chia sẻ. Cuộc trò chuyện bỗng ngắt quãng vì tiếng rao của ghe bán hàng trên sông. “Rau muống, khoai lang, cà tím, thịt… thôi thì đủ cả. Nhưng mà đắt hơn mua ở chợ cả 2, 3 lần. Lương anh em có hơn 3,5 triệu đồng/ tháng nên đâu dám tiêu nhiều. Thôi thì “tự túc là hạnh phúc”, thứ gì trồng được, nuôi được thì ăn hoặc tranh thủ mỗi lần về thăm nhà mua thêm, không có thì ăn rau rừng chứ ít khi dám gọi ghe vào mua lắm”, anh Hùng chia sẻ thêm.
3. Ghé đội Lôi Giang cũng hơn 6 giờ chiều, ánh trăng non đầu tháng không đủ để khỏa lấp thứ bóng tối huyền hoặc đang bao phủ cánh rừng đước trên sông Dinh Bà. Thắng, Đội phó chốt Lôi Giang cầm đèn pin ra đón đoàn kèm theo nụ cười tươi rói: “Anh em chuẩn bị xong hết rồi. Mời cả nhà vào ăn cơm”. Bữa cơm tại chốt toàn đặc sản rừng ngập mặn: Cá đối nướng, chem chép hấp, tôm nõn xào rau. Ngon nhất phải kể đến món cá liềm xiềm nướng muối ớt, thứ cá chỉ khi có khách anh em ở đây mới đủ kiên nhẫn ngồi câu. Văng vẳng đâu đây nghe rì rầm tiếng máy phát điện, tôi chưa kịp hỏi thì được các anh giải thích: Hôm nay nhà có khách nên anh em… chơi sang, đi mua dầu từ sáng, chứ bình thường làm gì có. Pin mặt trời chỉ phát điện vào ban ngày thôi. Tôi gật, đầu vẫn lắc lư theo ca từ bài hát Lời tỏ tình trên đảo Ông Đen đang được mọi người say sưa hát sau mấy tuần rượu: “Anh nói anh yêu em trong sớm mai này, trên đảo hoang đất phèn chua lắm gai. Ta đã yêu nhau trong nắng sớm mưa chiều…”. Một anh đến chúc rượu và bắt chuyện: “Nhà báo có người yêu chưa? Ở đây anh em độc thân còn nhiều lắm! Cũng “băm” hết cả rồi. Có anh 41 tuổi vẫn đang chờ lấy vợ đấy. Đời sống vất vả nhưng anh em ở đây yêu đời lắm, ca hát suốt ngày! Sống ở rừng, nếu siêng năng thì cũng chẳng đến nỗi”. Câu nói bỏ lửng của anh khiến tôi bối rối. Vì thật quá? Vì lời bài hát? Hay vì dư vị nồng nàn của rượu giác, thứ rượu được lên men từ trái cây rừng vốn chỉ có ở Lôi Giang?
Quá nửa đêm, tiếng đàn, tiếng hát vẫn ngân vang cả một khúc rừng. Đàn muỗi đói lâu ngày được một bữa no nê với những vị khách lạ. Nằm trên chiếc võng dã chiến, chúng tôi cùng trò chuyện. Những câu chuyện không đầu, không cuối nhưng đủ ấm lòng nhau. Thắng bảo, quê anh ở xa lắm, tít ngoài Nam Định. Hồi mới vào, có bữa đi tuần còn bị lạc, phải cắt rừng, căn theo con nước để về. 23 năm làm TNXP, giờ anh đã là “thanh niên sống lâu năm” giữa những cánh rừng đước đang vùn vụt lớn mỗi ngày. Đội có 24 người quản lý cả 2.220ha rừng. Đi tuần ban ngày chưa đủ, anh em tranh thủ kéo ghe chạy cả ban đêm, càng gần Tết càng phải canh chừng vì nhu cầu củi khô cần nhiều. Hồi trước, nhiều nhóm còn chặt cả xi-te (1m3 gỗ) rồi cho thả trôi dưới bè. Anh em phải ngồi canh đến gần sáng. “Làm ở rừng đã đụng độ với lâm tặc chuyến nào chưa anh?”. “Nhiều chứ. Nhưng không gọi là lâm tặc vì chủ yếu đều là dân trong vùng, nhất là dân làm muối ở Lý Nhơn. Có lần anh em bắt được mấy người, lập biên bản họ không chịu ký, một lúc sau thì dân kéo đến đòi đánh, nói rừng của họ thì họ chặt. Những vụ như thế, anh em chủ yếu xử lý bằng tình cảm, khuyên nhủ dân không nên phá rừng, còn nếu căng quá thì áp dụng kế “chuồn” rồi gọi kiểm lâm ra xử lý”. “Bao lâu thì anh về thăm nhà?” “Một tháng có 4 ngày, anh em tự chia nhau. Mỗi lần về lại lỉnh kỉnh mắm muối, lương thực, nước ngọt mang đi. Hồi mấy đứa nhóc còn nhỏ, về nhà bồng bế mà chúng nó khóc thét lên vì tưởng người lạ, vợ thi thoảng cũng cằn nhằn. Đôi lúc cũng hơi chạnh lòng nhưng biết sao được, rừng gọi, Tổ quốc cần thì phải thế thôi”. Thắng trầm ngâm, rồi chợt đổi hướng: “Vất vả, nhưng được cái anh em ở đây thương nhau lắm, ngoài một số người được xí nghiệp phân công đi chỗ khác thì chưa ai có ý định bỏ rừng”…
Trời bên ngoài đã dần sáng, vẳng trên sông có những tiếng í ới của ngư dân. Một đêm ở rừng đủ để chúng tôi hiểu và thấm thía cuộc sống vất vả của những người ngày đêm bảo vệ, giữ gìn “lá phổi xanh” cho thành phố. Lúc chia tay nhau ở chân cầu An Nghĩa, Thắng cười – nụ cười sáng bừng của bình minh nắng sớm, của sức xuân đang tỏa ngát những cánh rừng.
Ngọc Anh


Bình luận (0)