Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Về làng cổ “đất võ, trời văn” hơn 550 tuổi

Tạp Chí Giáo Dục

Những ngày cuối đông Sài Gòn se lạnh. Cái lạnh không cắt da cắt thịt mà nhẹ nhàng, len lỏi đủ để khiến những người ly hương vừa chộn rộn, vừa da diết nhớ về quê cha đất tổ. Chút lạnh tàn đông quyện vào ánh nắng đầu xuân lại càng khiến những người con xa xứ muốn được quay trở về. Đối với những đứa con miền Trung như tôi thì thường một năm mới về nhà vào dịp Tết, chính vì thế mà lại càng thôi thúc, mong mỏi. Một năm bôn ba nơi đất khách quê người ai rồi cũng muốn được trở về, được đoàn tụ, được sống giữa tình thân gia đình, được cùng nhau xoa xoa đôi bàn tay lạnh buốt bên bếp lửa ấm đầu xuân.

1.Chắc hẳn rằng, ai cũng có trong mình một cái tên quê hương mà nghe qua thôi cũng đủ để muốn trở về. Với tôi cũng vậy mỗi lần nhắc đến hai chữ “Hoài Nhơn” là lòng tôi lại chộn rộn, nôn nao đến khó tả.

Hoài Nhơn quê tôi là một vùng đất phía bắc tỉnh Bình Định cũ, nay là tỉnh Gia Lai. Nơi nổi tiếng là miền đất “đất võ, trời văn” giàu truyền thống lịch sử, văn hóa. Chính vì thế mà cái tên Hoài Nhơn chứa đựng trong đó là một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Trong từ điển Hán – Việt, “Hoài” có nghĩa là nhớ nhung, mong mỏi, hoặc ôm ấp trong lòng. “Nhơn” (cách đọc biến âm của “Nhân”) là giá trị cao quý nhất trong ngũ thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín), chỉ lòng thương người, đạo đức và sự tử tế. Do đó, “Hoài Nhơn” không chỉ đơn thuần là một danh xưng hành chính mà đó còn là “sự hoài mong, luôn giữ chặt trong đức nhân nghĩa”. Tiền nhân khi khai khẩn vùng đất này đã gửi gắm một ước vọng sâu xa: Xây dựng một cộng đồng nơi con người sống với nhau bằng tình thương và đạo lý. Đây cũng là lý do vì sao người Hoài Nhơn luôn được biết đến với tính cách hiền hòa, hiếu khách và trọng nghĩa khinh tài.

Địa danh Hoài Nhơn đến nay đã trải qua hơn 550 năm lịch sử. Đất và người Hoài Nhơn đã khẳng định sức sống mãnh liệt và trường tồn cùng đất nước. Qua các thời kỳ lịch sử, người dân xứ dừa một dạ kiên trung, dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu; cần cù, sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất. Nhiều thế hệ người Hoài Nhơn đã bảo vệ, giữ gìn và xây dựng quê hương trở thành vùng đất trù phú và tươi đẹp.

Có một quy luật thú vị là hầu hết các phường, xã ở huyện Hoài Nhơn (cũ) đều bắt đầu bằng chữ “Hoài”. Đó là Hoài Hảo (Mong mỏi sự tốt lành, tốt đẹp), Hoài Thanh (Ước vọng về sự thanh bình, trong sạch), Hoài Hương (Lòng luôn nhớ về quê cha đất tổ), Hoài Mỹ (Luôn hướng về cái đẹp, sự mỹ lệ), Hoài Xuân (Sự tươi trẻ, tràn đầy sức sống như mùa xuân). Với quy luật này không chỉ tạo nên sự thống nhất về mặt hành chính mà còn cho thấy tư duy hệ thống của người xưa. Việc kết hợp chữ “Hoài” (mong mỏi) với các tính từ chỉ sự hoàn mỹ (Hảo, Thanh, Mỹ, Xuân…) chứng tỏ người Hoài Nhơn luôn sống có mục đích, có khát vọng và luôn hướng thượng.

Có lẽ sinh ra và lớn lên ở mảnh đất giàu truyền thống cách mạng đó mà tôi luôn cảm thấy vô cùng tự hào. Sau khi sau sáp nhập địa giới hành chính nhiều cái tên gắn liền với ký ức không thể giữ lại nhưng riêng “Hoài Nhơn” vẫn còn được tồn tại với những cái tên mới như phường Hoài Nhơn, phường Hoài Nhơn Đông, phường Hoài Nhơn Tây, phường Hoài Nhơn Nam, phường Hoài Nhơn Bắc.

2.Hoài Nhơn được biết đến là nơi có nhiều đền thờ, di tích lịch sử văn hóa được người dân và du khách thường xuyên lui tới. Đây là nơi lưu lại một giai đoạn lịch sử với sự hàm ơn, hướng về cội nguồn trong niềm kính ngưỡng và cũng là những địa chỉ tiêu biểu ấn chứng các giá trị lịch sử, văn hóa của xứ Hoài. Chỉ riêng phường Hoài Nhơn nơi tôi sinh ra đã có hai di tích lịch sử là Đền thờ Đào Duy Từ và Cây số 7 Tài Lương.

Nhà nội tôi rất gần với Đền thờ Đào Duy Từ. Nội tôi vốn là hàng xóm thân thuộc với nhà ông Đào Duy Nhơn, cháu đời thứ 13 của Đào Duy Từ. Tôi nhớ ngày nhỏ có mấy lần nội hay dẫn tôi sang nhà ông chơi, tôi hay gọi ông là ông Sáu Bá. Ông nhiều lần kể cho tôi nghe về cụ Đào Duy Từ. Trong ký ức của một đứa trẻ ngày ấy tôi chỉ còn nhớ rằng cụ Đào Duy Từ là người đa tài, cụ Đào Duy Từ đã có nhiều công tích đối với dân làng, ông hướng dẫn cho dân khai khẩn lập làng, mở đường giao thông, đào sông, làm thủy lợi, phát triển sản xuất. Đặc biệt, ông rất quan tâm đến công tác giáo dục, ông là người thầy được học trò hết sức kính trọng.

Mùa xuân đến, những mầm xanh đâm chồi nảy lộc, những con đường làng giờ được bê tông hóa nhưng những di tích lịch sử như Đền thờ Đào Duy Từ, Cây số 7 Tài Lương như một chứng tích của thời gian để nhắc nhở cháu con về cội nguồn dân tộc, thêm tự hào về truyền thống anh hùng của quê cha đất tổ. Những nét đẹp văn hóa ấy đã làm phong phú thêm vẻ đẹp của mùa xuân rực rỡ. Bởi vậy dù cho có đi đâu, có bôn ba nơi xứ người thì quê hương vẫn là nguồn cội, là điểm tựa tinh thần là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa, ký ức… và là nơi để trở về.

Còn vài ngày nữa là Tết đến. Không một ngôn từ nào có thể diễn tả hết được cảm xúc quây quần bên gia đình cùng chúc nhau lời chúc năm mới bình an, thuận lợi. Đơn giản chỉ là sau một năm xa xứ, nay được về bên vòng tay gia đình, được cùng nội ngồi bên lò than ấm. Nội biểu ăn mứt gừng đi cho ấm bụng. Miếng mứt gừng cắn nhẹ đã cay nơi đầu lưỡi nhưng lại lan hơi ấm đến tận đáy lòng. Tôi thích thú cuộn mình trong chiếc mền nhung đỏ của nội ngồi nghe nội kể chuyện ngày xưa, những năm tháng xa xưa của thời mở đất, rồi định danh nên một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, cách mạng mang tên Hoài Nhơn. Thoáng chợt, đâu đó một câu ca lại ùa về:

Mai này dẫu có xa xôi,

Lòng con vẫn hướng một trời quê hương.

Xứ dừa xanh mãi vấn vương,

Hoài Nhơn – nỗi nhớ trên đường đời con.

Thúy Nga

Bình luận (0)