Tiếng vó ngựa lóc cóc, lọc cọc trên các con đường quê từ mờ sáng đến nửa đêm không biết tự bao giờ đã ăn sâu vào ký ức của người dân phương Nam nói chung và đất Thủ Dầu Một (Bình Dương) nói riêng. Để rồi mỗi khi Tết đến xuân về thì những thanh âm ấy, hình ảnh ấy thêm một lần nữa lại hiện về từ dĩ vãng xa xôi với bao hoài niệm về một thuở “ngựa xe như nước áo quần như nêm”…

1.Hơn 300 năm trước và có thể xa hơn nữa, thời mới khai khẩn miền đất mới phương Nam, đất Thủ Dầu Một (nay là phường Thủ Dầu Một, TP.HCM) là một trong những cái nôi hình thành chiếc xe ngựa – thổ mộ ở Nam bộ. Trong từ điển tiếng Việt miền Nam, học giả Vương Hồng Sển giải thích: “Xe thổ mộ là chiếc xe do một ngựa kéo dùng chở hàng hóa cho khách bộ hành vùng ngoại ô Sài Gòn, Chợ Lớn, Lái Thiêu” (trang 643). Có nhiều cách giải thích vì sao xe ngựa được gọi là xe thổ mộ. Về nguồn gốc địa chí TP.HCM cho rằng, xe ngựa của Nam bộ là phỏng theo mô hình kiểu xe song mã của Âu châu. Cố nhà văn Sơn Nam giải thích “thổ mộ” bắt nguồn từ hai chữ “thảo mã” nghĩa là loại xe dùng ngựa để chở cỏ của người Trung Quốc. Nhưng số đông tác giả cho rằng, vì mui chiếc xe có hình khum khum mu rùa, giống như nấm mộ (mả đất) nên xe được gọi là xe thổ mộ.

2.Thế kỷ XIX, đất Thủ Dầu Một là nơi nghề thủ công phát triển mạnh, kinh tế giao thông hàng hóa rộng khắp nhờ vào nguồn nhân lực, thợ lành nghề đông đảo, nguyên vật liệu gỗ rừng dồi dào, lại ở vị trí thuận lợi cho việc giao thương đường thủy (tả ngạn sông Sài Gòn), đường bộ, tạo nên một quang cảnh tấp nập “trên bến dưới thuyền”, nhu cầu đi lại, chuyên chở hàng hóa rất lớn. Đường bộ, ngoài đôi chân, phương tiện giao thông gần như duy nhất là xe ngựa. Vì thế nghề làm xe thổ mộ, nuôi ngựa nhanh chóng phát triển và trở thành “thủ phủ” của xe ngựa một thời gian dài trong quá khứ. Sự phát triển này còn ghi rõ trong bài vè mô tả nét đặc biệt về sự nhộn nhịp ra vào “dọc ngang” của đoàn xe thổ mộ tại ngôi chợ quan trọng hàng đầu này:
“Xuống tới đầu chợ
Trại cưa trước mặt
Thổ mộ có hàng
Rủ nhau soạn bàn
Đi về Bưng Cải
Mênh mông đại hải
Khắp cả Châu Thành”
(Vè chợ Thủ)

Hay trong bài “Vè 47 chợ” đã mô tả:
“… Thiên hạ thất kinh
Là chợ Hớn Quản
Khô như bánh tráng
Là chợ Phan Rang
Xe ngựa dọc ngang
Đó là chợ Thủ
Khỏi lo ngập lụt
Là chợ Bưng Cầu…”.

3.Vào đầu thế kỷ XX, phương tiện giao thông của cả miền Đông Nam bộ chỉ có khoảng năm ba chiếc ô tô (lúc bấy giờ gọi là xe điện), chạy các tuyến đường Sài Gòn – Chợ Lớn, Sài Gòn – Hóc Môn, Sài Gòn – Thủ Dầu Một. Đó là những chiếc xe đò còn rất thô sơ, nhưng chỉ những người quyền quý, có tiền mới dám sử dụng. Còn đa số dân lao động thường đi bộ, khá hơn thì đi xe ngựa, nhất là khi có hàng hóa cần phải chuyên chở thường phải dùng đến loại phương tiện giao thông này.

Xe ngựa từ đây có cơ hội phát triển nhanh. Các cơ sở đóng xe ngựa và nuôi ngựa đã sớm được hình thành và cũng hình thành luôn cả một đội ngũ chuyên làm nghề này. Tuy xe ngựa đã xuất hiện nhiều nơi ở Nam bộ, nhưng vào thời ấy cả vùng Đông Nam bộ chỉ có vài ba nơi có khả năng sản xuất được chiếc xe ngựa và thường dùng loại phương tiện này là ở Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Dầu Một, Lái Thiêu…

Nhiều bậc cao niên trên đất thủ cho rằng ở các vùng Tương Bình Hiệp, Tân An, Hiệp An, Phú Cường có nhiều cơ sở đóng thùng xe rất đẹp, bền chắc và trang nhã. Còn nơi làm bánh xe, trục xe bền chắc hơn cả là vùng Thuận Giao, An Thành vì nơi đây có nhiều thợ rèn lành nghề.
Lúc đầu trục xe, căm xe làm bằng gỗ cứng, về sau cải tiến làm bằng sắt do các thợ rèn tài nghệ cao đảm nhiệm, nên xe càng chắc chắn di chuyển càng thêm dễ dàng. Từ chỗ thùng xe đóng không mui, sau cải tiến thành có mui che mưa nắng thêm tiện lợi. Ban đầu chưa có đèn chuông, về sau có gắn đèn chai lồng và lục lạc để báo hiệu… Đặc biệt, khi hoàn chỉnh một chiếc xe, việc chọn giống ngựa ô, ngựa khỏe ở vùng Tân Sơn Nhất, Gò Vấp, Bà Điểm, Hóc Môn là một bổ sung rất quan trọng để chiếc xe thổ mộ đưa vào vận hành trên các nẻo đường từ thành thị đến nông thôn…
Thương Nguyên
(Ảnh: Huỳnh Mỹ Thuận)

Bình luận (0)