Ông Huỳnh Thành Đạt – Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương – cho biết, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác lập các định hướng chiến lược mang tính bệ phóng cho phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tinh thần xuyên suốt là phát triển nhanh và bền vững, lấy khoa học – công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hoàn thiện thể chế làm động lực then chốt. Trong đó, doanh nghiệp (DN), đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo ông Đạt, DN không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải trở thành chủ thể trung tâm của đổi mới, chuyển đổi và hội nhập. Đây cũng là định hướng xuyên suốt trong các nghị quyết trụ cột gần đây của Bộ Chính trị. Trong bối cảnh đó đặt ra yêu cầu rõ ràng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) của DN Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Theo đó NLCT phải được xây dựng trên nền tảng năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh thực chất.
TS.Vũ Minh Khương – giảng viên Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu, ĐH Quốc gia Singapore – cho rằng, muốn nâng cao NLCT của DN thì trước hết phải thống nhất cách đo lường.
Thứ nhất là năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực, đặc biệt là năng suất lao động. Ở các nền kinh tế phát triển, thu nhập chỉ có thể tăng bền vững khi mỗi lao động tạo ra nhiều giá trị hơn, đồng thời DN sử dụng hiệu quả vốn, đất đai và năng lượng; Thứ hai là hàm lượng giá trị gia tăng và cơ cấu tăng trưởng của sản phẩm, nhất là trong xuất khẩu. DN không chỉ được đo bằng sản lượng mà bằng tỷ lệ giá trị nội địa trong mỗi sản phẩm, khả năng đi từ gia công sang thiết kế, giải pháp và thương hiệu; Thứ ba là chất lượng việc làm và thu nhập của người lao động. Một DN hay khu công nghiệp chỉ thực sự có NLCT khi người lao động có việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn và ổn định hơn so với mặt bằng chung; Thứ tư là quyền lực thị trường và khả năng đàm phán của DN, thể hiện qua vị thế với nhà cung ứng, khách hàng và đối tác. DN cạnh tranh mạnh là DN ngày càng chủ động trong chuỗi giá trị, không bị ép giá hay lệ thuộc; Thứ năm là khả năng mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm và sức chống chịu trước biến động, đặc biệt là các cú sốc tài chính và thị trường toàn cầu; Thứ sáu là năng lực làm chủ công nghệ, bao gồm số hóa, dữ liệu và ứng dụng AI trong sản xuất, quản trị và kinh doanh. Đây là tiêu chí ngày càng mang tính quyết định trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu; Thứ bảy là vị trí và vị thế cạnh tranh quốc tế, tức DN và nền kinh tế đang đứng ở đâu khi so sánh với các quốc gia đi trước, xét trên năng suất, tiền lương, công nghệ và năng lực đổi mới.
Theo ông Nguyễn Ngọc Bảo – giảng viên Khoa Lý luận cơ sở, Học viện Cán bộ TP.HCM, muốn nâng cao NLCT cho DN, Việt Nam cần xây dựng một khung đánh giá chuẩn hóa, tham chiếu các bộ chỉ số quốc tế như GCI, đồng thời linh hoạt áp dụng các công cụ quản trị như SWOT và BSC tùy theo quy mô DN. Quan trọng hơn, NLCT của DN không thể tách rời chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi chính sách, bởi đây chính là nền tảng để DN Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu một cách bền vững.
Đẩy mạnh mô hình hợp tác “ba nhà”
Ông Lê Thanh Minh – Phó Giám đốc Sở KHCN TP.HCM – khẳng định, TP.HCM luôn quan tâm và xác định DN làm trung tâm, thị trường làm thước đo cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Thời gian qua, TP.HCM đã có những chính sách thúc đẩy mô hình “ba nhà” cũng như triển khai Nghị quyết 98. Trong đó, TP đã triển khai chính sách xây dựng trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế (Đề án COE). Hiện TP đang có chính sách nổi bật thu hút và giữ chân nhân tài ở các tổ chức KHCN công lập với mức lương tối đa cho người đứng đầu là 120 triệu đồng/tháng.
“TP.HCM đã triển khai đề án thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đưa sản phẩm nhanh chóng ra thị trường. Theo đó, các tổ chức nghiên cứu được quyền tự chủ trong việc hợp tác với DN, tự định giá, thương mại hóa và phân chia lợi ích trong sản xuất kinh doanh. TP hỗ trợ “vốn mồi” để DN hoàn thiện sản phẩm từ quy mô phòng thí nghiệm ra thị trường. Khi DN có vốn đối ứng, TP sẽ hỗ trợ mà không tính lại phần kinh phí ngân sách Nhà nước đã đầu tư trước đó để hình thành nên sản phẩm”, ông Minh nói.
PGS.TS Thái Thị Tuyết Dung – Trưởng ban Pháp chế, ĐH Quốc gia TP.HCM – nhấn mạnh, sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, ĐH Quốc gia TP đã đẩy mạnh mô hình hợp tác “ba nhà” (Nhà nước – nhà trường – DN), bước đầu ghi nhận nhiều kết quả cụ thể, tập trung vào bốn nhóm lĩnh vực trọng điểm gắn với nhu cầu phát triển KHCN và kinh tế đất nước. Cụ thể, nhóm hợp tác thứ nhất liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI); nhóm thứ hai tập trung vào máy bay không người lái và robotics; nhóm thứ ba là chip và bán dẫn; nhóm thứ tư liên quan đến môi trường, năng lượng và phát triển bền vững.
Trước thời điểm Luật KHCN và Đổi mới sáng tạo cùng Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành và có hiệu lực, hoạt động hợp tác nghiên cứu và chuyển giao còn gặp nhiều vướng mắc. Tuy nhiên, khi các chính sách pháp luật mới có hiệu lực là thời điểm thuận lợi để triển khai nhanh chóng, cụ thể hóa hợp tác “ba nhà”, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, sử dụng tài sản công. Bên cạnh đó, các chính sách này giúp đa dạng hóa hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Các trường đại học tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư, sản xuất và kinh doanh thông qua việc góp vốn bằng công nghệ.
Theo ông Nguyễn Đình Tùng – Chủ tịch Hội sản phẩm Nông nghiệp sạch TP.HCM, mô hình hợp tác “ba nhà” hiện nay vẫn gặp một số vướng mắc. DN có những nhu cầu rất cụ thể, mang tính ứng dụng cao, tuy nhiên trên thực tế nhiều đề tài nghiên cứu thiên về học thuật, chưa chạm tới nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, việc kết nối còn thiếu cơ chế để viện trường đồng hành cùng DN, kết quả nghiên cứu khó thương mại hóa.
“TP cần có những giải pháp cụ thể để mô hình “ba nhà” đi vào thực chất. Đối với Nhà nước, cần xây dựng cơ chế để DN đặt hàng nghiên cứu cho các trường – viện, có chính sách ưu đãi thuế, tín dụng. Đối với viện, trường, khi nghiên cứu cần gắn với nhu cầu thực tiễn, phát triển các trung tâm nghiên cứu gắn trực tiếp với DN, thiết kế chương trình đào tạo mới”, ông Tùng góp ý.
Hậu Giang

Bình luận (0)