Sự kiện giáo dụcVấn đề - Sự kiện

Những câu chuyện về lòng yêu nước của Phan Châu Trinh

Tạp Chí Giáo Dục

Tìm hiu nhng tm gương chí sĩ cách mng, nhiu khi chúng ta thy, qua chui hot đng đơn l, nếu đem thêu dt li s kết nên tm la gm quý báu v tm lòng yêu nưc.

Nhà yêu nước Phan Châu Trinh

Nhà cách mạng Phan Châu Trinh là một trường hợp như thế. Chỉ qua các sự kiện gắn liền với bước đường tranh đấu của Tây Hồ (biệt hiệu Phan Châu Trinh), chúng ta thấy được nhiệt huyết yêu nước của cả cuộc đời ông, mà như cụ Phan Bội Châu, chí sĩ cách mạng cùng thời, đánh giá là: “Ba tấc lưỡi nào gươm nào súng, nhà cầm quyền trông gió đã gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói” (Văn tế Phan Chu Trinh).

Cuộc đời cách mạng của Phan Châu Trinh gắn với con đường “Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh”, chủ trương canh tân đất nước bằng giáo dục và cải cách xã hội. Khó có thể kể hết nhiệt huyết của Tây Hồ, dưới đây là một số câu chuyện “dệt” nên “gấm” lòng yêu nước của ông nhân 100 năm ngày mất (1926-2026).

Cuc đi và nhng bưc đưng hot đng yêu nưc

Phan Châu Trinh (sinh năm 1872) quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (trước đây). Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Năm 1901, Phan Châu Trinh đỗ Phó bảng dưới triều vua Thành Thái. Tuy nhiên, ông chỉ làm quan một thời gian ngắn rồi từ quan (1905), để dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng. Từ đó cuộc đời Phan Châu Trinh chuyển sang một giai đoạn mới: đi khắp nơi vận động cải cách xã hội và thức tỉnh dân chúng theo con đường khác với nhiều nhà yêu nước đương thời. Nếu Phan Bội Châu chủ trương bạo động, cầu viện ngoại bang để giành độc lập, thì Phan Châu Trinh cho rằng trước hết phải nâng cao dân trí, xây dựng xã hội dân quyền và cải cách văn hóa. Khẩu hiệu nổi tiếng của ông là: “Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh”. Ý nghĩa của ba chủ trương này là mở mang giáo dục, học khoa học phương Tây; làm cho người dân có ý thức về quyền làm chủ; sau đó cải thiện đời sống kinh tế, xã hội. Ông cũng phê phán mạnh mẽ chế độ quân chủ và cho rằng Việt Nam cần tiến tới chế độ dân chủ.

Hoạt động chủ yếu của Phan Châu Trinh là diễn thuyết và phong trào Duy Tân (1906-1908) ở Trung Kỳ, cùng với các sĩ phu như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng. Phong trào này cổ vũ mở trường học mới, bỏ hủ tục lạc hậu, phát triển công thương nghiệp, học chữ Quốc ngữ. Một trong những biểu hiện nổi bật của phong trào là Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội, nơi truyền bá tư tưởng cải cách và giáo dục mới. Các bài diễn thuyết nổi tiếng của Phan Châu Trinh thường xoay quanh các vấn đề: phê phán chế độ phong kiến, kêu gọi học chữ Quốc ngữ, cải cách xã hội, thức tỉnh lòng tự trọng dân tộc. Nó ảnh hưởng rất lớn đến trí thức và thanh niên lúc bấy giờ.

Phan Châu Trinh qua đời năm 1926 tại Sài Gòn. Tang lễ của ông đã trở thành một sự kiện chính trị lớn, với hàng chục nghìn người tham dự ở nhiều nơi như Sài Gòn, Hà Nội, Huế… Nhiều học sinh, trí thức xuống đường để tưởng niệm ông, biến tang lễ thành một phong trào yêu nước rộng lớn. Chỉ riêng tại Sài Gòn, theo thống kê của báo chí bấy giờ, dân số khoảng 300.000 nhưng có khoảng 80.000 đến 100.000 người đưa tiễn cụ.

Nhiều học giả danh tiếng bấy giờ đã đánh giá rất cao đóng góp của Phan Châu Trinh. Tác giả của “Việt Nam sử lược” Trần Trọng Kim trong “Triều đình nước Nam dưới triều vua Tụ Đức” đánh giá cao tư tưởng đổi mới của Tây Hồ. Còn Huỳnh Thúc Kháng thì nhận xét: “Như tiên sinh, không những là một người chí sĩ yêu nước, mà thật là một nhà chính trị cách mạng đầu tiên nước Việt Nam ta vậy. Một kẻ sĩ vai gánh giang sơn, lòng thương nòi giống, một mình xông đột trăm cách toan lường…” (dẫn theo “Phan Châu Trinh và các tác phẩm chính luận”, biên soạn Vĩnh Sinh, người dịch Nguyễn Nghị, viết lời dẫn nhập Nguyễn Xuân Sanh, NXB Trẻ, 2018, tr.41)

Cuc đi và nhng giai thoi đy khí tiết

Sau khi đỗ Phó bảng và làm quan một thời gian, Phan Châu Trinh nhận ra triều đình bất lực trước thực dân. Ông nói với bạn bè rằng: “Làm quan mà không cứu được nước thì làm để làm gì”. Dưới triều Thành Thái, Phan Châu Trinh từng dự một buổi họp bàn việc triều đình. Trong buổi họp, nhiều quan chỉ lo bàn lễ nghi, hình thức, trong khi đất nước đang bị thực dân Pháp khống chế, Phan Châu Trinh bực tức đập bàn nói: “Nước đã mất mà các ông còn bàn chuyện mũ áo, lễ nghi!”. Vì vậy ông quyết định từ quan khi mới ngoài 30 tuổi, đây là điều rất hiếm thời đó. Theo TS. Nguyễn Xuân Xanh (sách đã dẫn), dù xuất thân là quan văn nhưng khí tiết của Phan Châu Trinh lại mang tinh thần võ sĩ đạo. Điều này làm nên khí tiết mạnh mẽ của Tây Hồ.

Năm 1908, sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, chính quyền thực dân Pháp bắt Phan Châu Trinh và kết án tử hình. Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của nhiều người, án được giảm xuống chung thân và đày ra Côn Đảo. Tại đây có một giai thoại đáng thán phục. Trong cuốn “Tự học – Nhu cầu của thời đại”, học giả Nguyễn Hiến Lê có kể lại câu chuyện về tinh thần tự học phi thường của Phan Châu Trinh. Trong hoàn cảnh nhà tù khắc nghiệt, ông nhận ra một điều rằng muốn đấu tranh trực tiếp với chính quyền Pháp thì phải biết tiếng Pháp, vì vậy ngay trong tù ông tự học tiếng Pháp. Sau một thời gian, ông đã viết được thư và kiến nghị bằng tiếng Pháp gửi cho chính quyền thuộc địa để trình bày quan điểm chính trị của mình. Sau này, khi sang Pháp (1911), nhờ vốn tiếng Pháp đã tự học trước đó, ông có thể viết nhiều bản kiến nghị chính trị, viết báo phê phán chế độ thuộc địa, trao đổi với trí thức Pháp về vấn đề Việt Nam, trong đó có Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Hiến Lê xem đây là một tấm gương tự học rất tiêu biểu của người Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Lại như chuyện “cắt tóc ngắn” để cổ vũ canh tân được Nguyễn Hiến Lê nhắc đến trong cuốn “Đông kinh nghĩa thục” (Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa Thông tin, HN, 2001) như sau. Thời đó đàn ông Việt Nam thường để tóc dài búi tóc theo kiểu truyền thống. Phan Châu Trinh cùng các sĩ phu trong phong trào Duy Tân đã chủ trương cắt tóc ngắn, mặc trang phục gọn gàng kiểu mới, bỏ nhiều hủ tục. Có lần ông nói với học trò: “Đầu còn chưa dám đổi thì nói gì đổi được nước”. Việc cắt tóc ngắn thời ấy là một hành động táo bạo vì bị coi là trái phong tục. Ca dao ta có nhắc “Đàn bà để tóc thì sang/ Đàn ông để tóc chỉ mang nặng đầu”, tôi đồ rằng hai câu này ra đời từ sự khởi xướng của cụ Phan Châu Trinh.

Năm 1906, Phan Châu Trinh viết “Thư thất điều” gửi vua Duy Tân, nêu ra bảy tội lớn của triều đình phong kiến như quan lại tham nhũng, đàn áp dân, không lo cải cách đất nước… Đây là một hành động cực kỳ táo bạo vì hiếm ai dám chỉ trích thẳng triều đình như vậy. Chính quyền Pháp nể sợ, để cho cụ Tây Hồ và các đồng chí “tự do” diễn thuyết có lẽ cũng từ khí tiết này của cụ.

Lẽ thường thì, khi trái ngược về tư tưởng, đường lối hoạt động cách mạng, người ta dễ hiềm khích với nhau. Song, giữa Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu không như thế. Có lần hai người tranh luận rất gay gắt về đường lối cứu nước, Phan Châu Trinh nói: Anh làm theo đường của anh, tôi làm theo đường của tôi. Nhưng mục đích đều là vì nước. Khi sang Pháp (1911), Phan Châu Trinh thường viết báo và gửi kiến nghị yêu cầu chính quyền Pháp cải cách chế độ thuộc địa. Có lần một người Pháp hỏi ông: “Ông chống Chính phủ Pháp mà vẫn sống ở Pháp, có mâu thuẫn không?”. Phan Châu Trinh trả lời: “Tôi chống sự áp bức chứ không chống văn minh”. Câu nói này thể hiện tư tưởng của ông là học cái hay của phương Tây nhưng phản đối chế độ thực dân cướp nước.

Trn Ngc Tun

Bình luận (0)