Sự kiện giáo dụcVấn đề - Sự kiện

Mạng lưới trường lớp TP.HCM: Áp lực sĩ số đè nặng lên hạ tầng cơ sở

Tạp Chí Giáo Dục

​Phân tích từ số liệu thực tế tại hơn 160 đơn vị phường, xã trên địa bàn TP.HCM cho thấy bức tranh tương phản rõ rệt: Trong khi một số khu vực có hạ tầng trường lớp thênh thang, nhiều “điểm nóng” đô thị đang phải gồng mình gánh số lượng học sinh khổng lồ…

​Sau sáp nhập, quy mô học sinh tại các địa phương thuộc TP.HCM có sự chênh lệch cực kỳ lớn. Đỉnh điểm là phường Dĩ An với 49.867 học sinh, tiếp sau đó là các khu vực vùng ven đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ như phường Bình Tân (32.670 học sinh), xã Bà Điểm (31.325 học sinh) và xã Đông Thạnh (29.287 học sinh). Quy mô này gấp từ 10 đến 15 lần so với các đơn vị ở khu vực vùng trung tâm như phường Sài Gòn, Tân Định, Bến Thành hoặc các vùng ngoại thành hoặc đặc thù như đặc khu Côn Đảo (2.727 học sinh) hay xã Phước Thành (1.738 học sinh). Điều này cho thấy áp lực dân số cơ học đang dồn nén khủng khiếp lên hệ thống giáo dục tại các phường, xã cửa ngõ.

Ảnh minh họa

​Một trong những chỉ số quan trọng nhất để đánh giá chất lượng giáo dục là tỷ lệ phòng học trên số lớp. Theo tiêu chuẩn hiện đại, mỗi lớp học cần có một phòng học riêng để đảm bảo học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy nhiều địa phương đang thiếu hụt phòng học trầm trọng.

Có thể kể đến như phường Tân Đông Hiệp có đến 688 lớp học nhưng chỉ có 520 phòng học. Số lớp vượt xa số phòng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học; phường Dĩ An với 1.392 phòng học – số lượng phòng học lớn nhất tại TP.HCM nhưng vẫn phải phục vụ tới 1.482 lớp học.

​Ngược lại, các khu vực như phường Thủ Dầu Một lại cho thấy sự đầu tư vượt trội về hạ tầng với 2.204 phòng học phục vụ cho chỉ 552 lớp học, đảm bảo điều kiện lý tưởng cho các hoạt động ngoại khóa và bán trú.

Quy mô học sinh

Tại phường Bình Tân, quy mô học sinh lên tới hơn 32.000 em nhưng chỉ có 25 trường học. Trung bình mỗi trường phải gánh hơn 1.300 học sinh; phường Hiệp Bình với 27.535 học sinh và 877 lớp học, nhưng chỉ có duy nhất 1 trường đạt chuẩn quốc gia. Đây là minh chứng rõ nét cho việc quy mô số lượng đang lấn át chất lượng hạ tầng chuẩn hóa.

​Phường Tân Thới Hiệp và phường Tam Bình cả hai đều có trên 27.000 học sinh nhưng số lượng trường học chỉ dao động từ 21-35 trường, dẫn đến sĩ số học sinh trên mỗi lớp tại đây luôn ở mức cao.

​Xã Thuận Giao với quy mô học sinh lên đến hơn 29.000 em, nhưng số lượng phòng học chỉ có 468 phòng cho 798 lớp học. Đây là đơn vị có khoảng cách giữa số lớp và số phòng học lớn nhất, thiếu hụt không gian giảng dạy nghiêm trọng.

​Trên thực tế, tại các phường xã có tốc độ tăng dân số nhanh, việc xây dựng trường mới và phòng học mới hiện vẫn đang đuổi theo sau nhu cầu thực tế của người dân.

Để giải quyết bài toán này, TP.HCM cần có cơ chế đặc thù trong việc hoán đổi quỹ đất công năng sang đất giáo dục tại các “điểm nóng” như Dĩ An, Bình Tân, Bà Điểm. Nếu không có sự can thiệp kịp thời về hạ tầng phòng học, mục tiêu nâng cao tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày và giảm sĩ số lớp học, tiến tới các điều kiện giáo dục theo chuẩn quốc tế sẽ vẫn còn là một thách thức…

Yến Hoa

Bình luận (0)