Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).

Với tuổi đời 28 năm (1912-1940), nhà thơ của kiếp “đau thương” đành khép lại hành trình văn chương như ánh sao băng chưa kịp đi hết quỹ đạo. Theo Nguyễn Hoành Khung: “Hàn Mặc Tử là một tài năng lớn, độc đáo với một hồn thơ mãnh liệt, kỳ dị”, “thơ Hàn Mặc Tử để lại dấu ấn rõ nét trong thơ ca đương thời, đặc biệt, có ảnh hưởng sâu sắc đến một số nhà Thơ mới khi đó…” (Từ điển Văn học, bộ mới, NXB Thế giới, 2003, tr.575). Sau 86 năm ngày về “ở bên khe nước ngọc”, thơ ca và những câu chuyện cuộc đời của chàng thi sĩ bút danh họ Hàn vẫn “có hàng vạn tấm lòng độc giả đến cùng Hàn Mặc Tử” (Chế Lan Viên, Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB Văn học, Hà Nội, 1987, tr.15).
Cuộc đời ngắn ngủi: “đau thương mà kỳ dị” (Hoài Thanh)
Độc giả thường nhớ đến Hàn Mặc Tử khi có duyên với bốn chữ “Bình”: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình (Sài Gòn trước đây), có người yêu ở Bình Thuận (ý chỉ Mộng Cầm) và mất tại Bình Định (nhà thương phong Quy Hòa). Theo Chế Lan Viên (dựa theo tài liệu của bạn bè từng sống với Hàn Mặc Tử), tổ tiên Hàn Mặc Tử là gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Nhượng bị truy nã về tội quốc sự nên phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế và đổi thành họ Nguyễn. Sau này Tử lấy hiệu Lệ Thanh là ghép hai chữ Lệ ở Lệ Mỹ (Đồng Hới) với Thanh ở Thanh Tân (Thanh Hóa) mà thành.
Hàn Mặc Tử được biết đến với nhiều mối tình, để lại dấu ấn trong văn thơ của ông, như Mộng Cầm (cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng cậu), Hoàng Cúc (người con gái Huế gắn liền với sự ra đời bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ), Mai Đình, Thương Thương, Ngọc Sương… Tuy nhiên, trong số những “bóng hồng” ông đã gặp, có người ông chỉ giao tiếp qua thư từ và có người ông chỉ biết tên. Theo các tài liệu nói trên của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử yêu Hoàng Cúc trong khoảng thời gian 1932-1933. Và cũng từ khoảng thời gian này, Tử quen và trao đổi thư từ với Mộng Cầm. Năm 1936, Tử và Mộng Cầm đi chơi lầu ông Hoàng (Phan Thiết). Còn Thương Thương (cháu gọi Trần Thanh Địch bằng chú) là chuyện do Trần Thanh Địch “bịa” ra để an ủi Tử. Với Mai Đình thì Tử có trao đổi, gặp mặt (và cả lánh mặt) trong những năm 1937-1938. Các “bóng hồng” khác không thấy Chế Lan Viên nhắc đến. Có thể vì quá mến mộ Hàn Mặc Tử mà nhiều người đã thêu dệt thêm chăng!
Từ nhỏ (1926, 14 tuổi), Hàn Mặc Tử đã làm thơ Đường luật và lấy bút danh là Minh Duệ Thị. Và sau đó nhanh chóng nổi tiếng với bút hiệu Phong Trần, đăng thơ trên các tờ Phụ Nữ Tân Văn, Lời Thăm, được cụ Phan Bội Châu (chủ nhân thi xã Mộng Du) đề cao và họa thơ (từ 1930-1931).
Từ năm 1932 đến tháng khoảng 9-1940, Hàn Mặc Tử cộng tác và phụ trách cho các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, Công Luận, Tân Thời, Đông Dương tạp chí… Từ 1934-1935 đổi tên thành Lệ Thanh rồi Hàn Mặc Tử. Những năm tháng làm báo ở Huế và Sài Gòn giúp Tử mở rộng giao lưu với nhiều người nổi tiếng đương thời như Phan Bội Châu, Quách Tấn, Thúc Tề, Hoàng Trọng Miên, Bích Khê, Yến Lan, Hoàng Diệp, Nguyễn Minh Vỹ, Nguyễn Viết Lãm, Chế Lan Viên, Trần Thanh Mại, Trần Thanh Địch, Thanh Nghị…
Nhưng khi tài năng đang độ chín, bi kịch ập đến với chàng thi sĩ Hàn. Từ cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử phát hiện mình mắc bệnh phong. Ông chia tay với Mộng Cầm và trở về Quy Nhơn. Từ 1938 đến 1940, Tử phải thay đổi chỗ ở nhiều lần trong thành phố Quy Nhơn để khỏi bị bắt đưa vào trại phong. Năm 1940 (ngày 20 tháng 9) Tử vào trại phong Quy Hòa, bệnh nhân số hiệu 1134. Ngày 11-11-1940, Tử mất tại Quy Hòa, ông được chôn tại Đèo Son. Năm 1959, gia đình Hàn Mặc Tử và nhà thơ Quách Tấn cải táng mộ ông về Gành Ráng, Quy Nhơn.
Bi kịch của cuộc đời ngắn ngủi đầy đau thương trở thành một “chất xúc tác” đặc biệt, khiến Hàn Mặc Tử “bùng nổ” với cường độ sáng tác mãnh liệt chưa từng có. Chỉ trong một thời gian ngắn (1926-1940), Hàn Mặc Tử có số lượng tác phẩm phi thường, gồm: Lệ Thanh thi tập (thơ Đường luật đăng trên các báo), Gái quê (1936), Đau thương (Thơ Điên), Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên (gồm một số bài thơ và hai vở kịch Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội – đang viết dở), Chơi giữa mùa trăng (thơ – văn xuôi) và một số bài tạp văn, bài báo phóng sự… Người ta cho “ông là một thi sĩ mà trên thế giới không một thi sĩ nào sánh kịp”, “người ta thấy dưới ngòi bút của ông những bài tuyệt tác” (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại).
Phong cách độc đáo: mạch thơ vận động từ “trong trẻo” đến “ám ảnh”…
Ở giai đoạn đầu, thơ Hàn Mặc Tử mang vẻ đẹp trong sáng, giản dị, gần gũi với thiên nhiên và đời sống thôn quê. Tập Gái quê là minh chứng rõ nét cho một tâm hồn yêu đời, tha thiết với cái đẹp trần thế. Những vần thơ lúc này còn nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu và đậm chất lãng mạn, không khác nhiều so với dòng chảy chung của phong trào Thơ mới.
Nhưng từ khi mang bệnh, thơ ông bước sang một thế giới khác – thế giới của những cơn đau, của ám ảnh và những giấc mộng kỳ dị. Các tập thơ như Đau thương, Xuân Như Ý hay Thượng Thanh Khí cho thấy một sự biến đổi lớn: ngôn ngữ trở nên đứt gãy, hình ảnh phi logic, cảm xúc dồn nén đến cực điểm. Những câu thơ như: “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho” (Trăng vàng trăng ngọc), “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu” (Bẽn lẽn)… không còn đơn thuần là hình ảnh trăng, mà trở thành biểu hiện của một tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, khi dịu dàng, khi ghê rợn, như một sinh thể sống động hớp hồn…
| Điểm làm nên sự độc đáo của Hàn Mặc Tử chính là phong cách nghệ thuật không trộn lẫn. Ở đó có sự phá vỡ khuôn mẫu, đẩy ngôn ngữ đến giới hạn của nó, câu chữ vỡ ra, không còn tuân theo logic thông thường, mà vận hành theo những xung động nội tâm mãnh liệt. |
Điểm làm nên sự độc đáo của Hàn Mặc Tử chính là phong cách nghệ thuật không trộn lẫn. Ở đó có sự phá vỡ khuôn mẫu, đẩy ngôn ngữ đến giới hạn của nó, câu chữ vỡ ra, không còn tuân theo logic thông thường, mà vận hành theo những xung động nội tâm mãnh liệt. Những hình ảnh mang màu sắc siêu thực và tượng trưng, như trăng, máu, hồn, ánh sáng, thiên đường… xuất hiện dày đặc, đan xen vào nhau tạo thành một không gian vừa huyền ảo vừa ám ảnh.
Một yếu tố quan trọng khác là cảm thức tôn giáo. “Tư duy tôn giáo đã là một công cụ hữu hiệu để nâng cánh cho trực giác nghệ thuật tuyệt vời của thi nhân bay cao, bay xa vào cõi siêu hình” (Đỗ Lai Thúy, Hàn Mặc Tử – một hiện tượng độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam, Phê bình Văn học, NXB Văn nghệ, 1993, Tr.67). Trong nhiều bài thơ, người đọc bắt gặp hình ảnh Chúa, thiên đường… như một cách để Tử tìm kiếm ánh sáng giữa bóng tối của bệnh tật và cô đơn. Nhưng trên tất cả, thơ Tử là tiếng kêu của một con người khao khát sống. Dù bị dồn vào tận cùng của đau đớn, ông vẫn yêu đời, yêu cái đẹp một cách mãnh liệt. Chính sự giằng co giữa tuyệt vọng và hy vọng ấy đã tạo nên sức căng đặc biệt cho thơ ông.
Vì thế Hàn Mặc Tử được xem là một trong những đỉnh cao của phong trào Thơ mới. Chế Lan Viên từng gọi ông là “một nguồn sáng lạ trong thi ca Việt Nam”. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhận xét Tử là “một hồn thơ đau thương mà kỳ dị”. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu còn nhìn nhận Hàn Mặc Tử như một người tiên phong đưa yếu tố siêu thực và tượng trưng vào ngôn ngữ thi ca hiện đại.
Trần Ngọc Tuấn

Bình luận (0)