Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Nghề xưa trong nhịp sống hôm nay

Tạp Chí Giáo Dục

Có nhng ngh th công qua hàng trăm năm nay vn hin din trong đi sng ngưi dân. Bên chân dãy Trưng Sơn, ngh đan lát ca đng bào Vân Kiu, Pa Kô là mt phn gn bó, như ry nương, như bếp la. T nhng si mây, thanh tre gin d, ngưi th không ch làm ra vt dng mà còn đan li ký c, gi ly sinh kế và níu mt phn hn rng li.

Vợ chồng bà Hồ Thị Hoa giữ nghề đan lát truyền thống

c trong tng mt đan

Trong căn nhà sàn ở xã La Lay, ông Hồ Xuân Kham, ngoài 80 tuổi, vẫn đều đặn ngồi bên khung đan mỗi ngày. Hơn 70 năm gắn bó với nghề, đôi tay ông không còn nhanh như trước nhưng từng động tác vẫn chuẩn xác, dứt khoát. Ông bảo, người học đan từ nhỏ thì sợi mây như “nghe lời”, cứ thế mà uốn theo ý mình. “Ngày trước, bố tôi dạy từ khi mới 10 tuổi. Đan cái gùi không chỉ để dùng mà còn để biết cách sống với rừng”, ông Kham nói chậm rãi.

Những chiếc A Chói, A Teh, A Đư… không đơn thuần là vật dụng. Mỗi tên gọi là một câu chuyện, một chức năng, một dấu ấn văn hóa. Gùi lớn dùng để gùi củi, gùi nhỏ để đựng gạo, có loại lại dành riêng cho việc đi suối hay đi rẫy. Nhìn vào một chiếc gùi, người ta có thể đọc được cả một “bản đồ đời sống” của cộng đồng. Từ cấu trúc đáy vuông, thân tròn để phân tán lực, đến từng mắt đan lóng mốt, lóng đôi hay mắt cáo… tất cả đều là kết tinh của kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ. Bà Hồ Thị Hoa, ở xã Lìa, nói rằng nghề đan gắn với đời sống như một thói quen không thể tách rời. Khi còn trẻ, bà theo chồng học nghề. Lúc đầu chỉ là những món đơn giản, nhưng dần dần, từ đôi tay chưa quen, bà đã có thể làm những sản phẩm khó hơn. “Những cái nhỏ mới khó. Càng nhỏ thì càng phải đều tay, kiên nhẫn và tỉ mỉ. Có khi ngồi cả ngày chỉ được một phần nhỏ thôi”, bà Hoa kể.

Ở vùng cao, nơi nhiều người lớn tuổi không còn đủ sức đi rẫy xa, nghề đan trở thành một cách để họ tiếp tục lao động, tiếp tục có ích. Những sợi mây, thanh tre trở thành điểm tựa của tuổi già. Không gian đan lát thường diễn ra ngay dưới sàn nhà, nơi ánh lửa bếp hong khô những sản phẩm mới hoàn thành. Người Vân Kiều, Pa Kô quan niệm, một chiếc gùi muốn bền phải được “ăn khói”. Khói bếp không chỉ làm cứng vật liệu mà còn giúp các sản phẩm thô sơ trở nên có hồn hơn.

Sinh kế t ngh

Giữa nhịp sống hiện đại, khi trên thị trường các sản phẩm nhựa và nilon tràn ngập, nghề đan lát có lúc chững lại. Nhưng ở nhiều bản làng vùng cao Quảng Trị, nghề vẫn tồn tại, không chỉ vì nhu cầu sinh hoạt, nó đang dần trở thành nguồn thu nhập. Anh Kôn Khang, một người thợ trẻ ở La Lay, cho biết mỗi chiếc gùi anh làm ra có thể bán khoảng 200 nghìn đồng. Nếu khách yêu cầu thêm dây đeo, giá sẽ cao hơn. Dù không phải là nguồn thu lớn, nhưng với người vùng cao, đó là khoản thu ổn định. “Nghề này lấy công làm lãi. Ai yêu nghề thì mới làm lâu được”, anh nói.

Không phải ai cũng chọn đan tất cả các sản phẩm. Mỗi người sẽ chuyên một loại, tùy theo tay nghề và nhu cầu thị trường. Có người chuyên làm gùi, có người làm giỏ đựng, có người lại tập trung vào những sản phẩm nhỏ, tinh xảo hơn để bán cho du khách. “Tùy vào nhu cầu thị trường mà mình phải thích nghi, thay đổi để tồn tại. Ngày xưa đan sản phẩm chỉ phục vụ nhu cầu trong gia đình, giờ đây đã trở thành hàng hóa, thậm chí là quà lưu niệm”, Kôn Khang nói.

Điều đáng nói là trong quá trình ấy, nghề vẫn giữ được cốt lõi truyền thống. Người thợ vẫn vào rừng chọn mây, chọn tre đúng độ tuổi; vẫn chẻ nan theo kỹ thuật “lạng” để giữ lớp cật; vẫn đan theo những nguyên lý đã được kiểm chứng qua thời gian. Chính sự tỉ mẫn đó tạo nên giá trị khác biệt. Trong bối cảnh xã hội đối mặt với khủng hoảng rác thải nhựa, những sản phẩm mây tre lại trở thành lựa chọn thân thiện với môi trường. Chúng có thể phân hủy tự nhiên, không gây hại và gắn với lối sống hài hòa với thiên nhiên.

Ông Hồ Văn Hiền, Chủ tịch UBND xã La Lay cho biết, việc duy trì và phát triển đan lát không chỉ giúp tạo sinh kế mà còn góp phần giữ rừng. Bởi khi người dân còn phụ thuộc vào mây, tre, họ sẽ có ý thức bảo vệ nguồn nguyên liệu, cũng chính là bảo vệ hệ sinh thái. Xã xác định hướng đi lâu dài là gắn nghề đan với du lịch và sản phẩm OCOP, đồng thời hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường rộng hơn. Khi đó, mỗi chiếc gùi không chỉ là vật dụng mà còn là “sứ giả văn hóa”. Nhưng để làm được điều đó, cần nhiều hơn những chính sách. Cần sự tiếp nối của thế hệ trẻ, những người có thể vừa giữ nghề, vừa làm mới nghề.

Giữ nghề đan lát, suy cho cùng, không chỉ là giữ một công việc. Đó là giữ rừng, giữ sinh kế và giữ lại một phần hồn cốt của cộng đồng giữa đại ngàn. Rồi có thể một ngày, những vật dụng hiện đại sẽ phủ kín từng nếp nhà vùng cao. Nhưng chừng nào còn những người vẫn ngồi bên hiên, chẻ nan, đan gùi, thì chừng đó nghề đan lát vẫn chưa mất.

Phan Vĩnh Yên

Bình luận (0)