Ngoại ngữ - Du họcNgoại ngữ

TP.HCM sẽ thí điểm đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 tại các trường tiên tiến, hội nhập

Tạp Chí Giáo Dục

“Giai đoạn 2025-2030, TP.HCM sẽ xây dựng mô hình thí điểm đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 tại các trường chất lượng cao, tiên tiến, hội nhập khu vực và quốc tế”.

Đây là nội dung đáng chú ý được nêu ra tại dự thảo Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” đang được Sở GD-ĐT TP.HCM lấy ý kiến.

Theo dự thảo, lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học ở TP.HCM bao gồm ba giai đoạn:

Giai đoạn 1 (2025-2030): Xây dựng nền tảng và chuẩn hóa, triển khai có trọng điểm – Đặt nền móng vững chắc để tiếng Anh được sử dụng thường xuyên, tạo nhu cầu giao tiếp và thói quen sử dụng tiếng Anh trong trường học. Chuẩn hóa chương trình, đội ngũ, hạ tầng và xây dựng mô hình thí điểm chất lượng cao.

Giai đoạn 2 (2030-2040): Mở rộng và tăng cường, hình thành hệ sinh thái tiếng Anh – Mở rộng quy mô sử dụng tiếng Anh trong dạy học và hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú trong hệ thống giáo dục. Tạo môi trường ổn định, rộng rãi và liên tục để tiếng Anh trở thành ngôn ngữ sử dụng thường xuyên trong trường học.

Giai đoạn 3 (2040-2045): Hoàn thiện và nâng cao, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong môi trường giáo dục tại TP.HCM – Tiếng Anh được sử dụng một cách tự nhiên, phổ biến và trở thành một phần trong văn hóa học đường. Hệ sinh thái tiếng Anh được hoàn thiện, khẳng định vị thế của TP.HCM là trung tâm giáo dục – kinh tế – tài chính của khu vực châu Á.

TP.HCM sẽ thí điểm đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 ở các trường tiên tiến hội nhập

Dự thảo cũng xác định 4 bước để đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, gồm:

Bước 1: nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường; chuẩn hóa chương trình từ tiểu học đến THPT theo chuẩn quốc tế; chuẩn hóa chuẩn đầu ra tiếng Anh phù hợp với từng ngành, chương trình đào tạo đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học theo yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ quốc tế. Bồi dưỡng, nâng chuẩn đội ngũ giáo viên tiếng Anh. Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế về giáo dục ngoại ngữ. Gắn chuẩn tiếng Anh với yêu cầu kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo, công tác xếp hạng và đánh giá uy tín cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học.

Bước 2: mở rộng môi trường sử dụng tiếng Anh ngoài nhà trường. Khuyến khích các hoạt động giao lưu, trải nghiệm, trao đổi học sinh, sinh viên; tổ chức các câu lạc bộ, sự kiện bằng tiếng Anh. Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế; chương trình đào tạo của các trường đại học thuộc top 100 trên thế giới.

Bước 3: ứng dụng công nghệ và chuyển đổi phát triển nền tảng học tập trực tuyến, kho học liệu số song ngữ. Tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào hỗ trợ học tiếng Anh.

Bước 4: thí điểm và nhân rộng. Thí điểm ở các trường thực hiện nội dung giáo dục chất lượng cao, trường tiên tiến, hội nhập quốc tế và khu vực. Đánh giá, rút kinh nghiệm, điều chỉnh lộ trình và nhân rộng mô hình.

Theo dự thảo đề án, TP.HCM xác định các mục tiêu cụ thể ở từng bậc học như sau:

Đối với giáo dục mầm non:

Giai đoạn 2025-2030: 70% cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn TP.HCM bảo đảm các điều kiện để triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen tiếng Anh và bước đầu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 tại các trường thực hiện mô hình chất lượng cao trường tiên tiến hội nhập quốc tế; 20% cơ sở giáo dục mầm non đạt Mức độ 1.

Giai đoạn 2030-2035: Ít nhất 80% số cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen với tiếng Anh;  Ít nhất 30% số cơ sở giáo dục mầm non triển khai thực hiện việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đạt Mức độ 1; 10% số cơ sở giáo dục mầm non đạt Mức độ 2..

Giai đoạn 2035-2045: Đến năm 2040: 90% số cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen với tiếng Anh. Ít nhất 40% số cơ sở giáo dục mầm non đạt Mức độ 1; 15% số trường mầm non đạt Mức độ 2 và 5% số trường mầm non đạt Mức độ 3.

Đến năm 2045: 100% số cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen với tiếng Anh. Ít nhất 50% số cơ sở giáo dục mầm non đạt Mức độ 1, 20% số cơ sở giáo dục mầm non đạt Mức độ 2 và 10% số cơ sở giáo dục mầm non đạt Mức độ 3.

Đối với giáo dục phổ thông

Giai đoạn 2025-2030: 100% cơ sở giáo dục phổ thông dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1; trong đó ít nhất 30% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 1; 20% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 2 và 10% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 3.

Giai đoạn 2030-2035: Ít nhất 50% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 1; 30% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 2 và 20% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 3.

Giai đoạn 2035-2045: Đến năm 2040: Ít nhất 60% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 1; 40% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 2 và 30% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 3.

Đến năm 2045: Ít nhất 70% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 1; 50% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 2 và 40% số cơ sở giáo dục phổ thông đạt Mức độ 3. 

Đối với giáo dục đại học

Giai đoạn 2025-2030: Ít nhất 20% số cơ sở giáo dục đại học (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt Mức độ 1; 5%  số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 2 và 3% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 3.

Giai đoạn 2030-2035: Ít nhất 30% số cơ sở giáo dục đại học (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt Mức độ 1; 20% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 2 và 5% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 3.

Giai đoạn 2035-2045:

Đến năm 2040: Ít nhất 40% số cơ sở giáo dục đại học (ngoại trừ các giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt Mức độ 1; 35% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 2 và 15% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 3.

Đến năm 2045: Còn không quá 25% số cơ sở giáo dục đại học (ngoại trừ các giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt Mức độ 1; ít nhất 50% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 2 và 25% số cơ sở giáo dục đại học đạt Mức độ 3.

Đối với giáo dục nghề nghiệp

Giai đoạn 2025-2030: Ít nhất 15% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 1; phấn đấu có 5% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 2.

Giai đoạn 2030-2035: Ít nhất 35% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 1; phấn đấu có 10% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 2 và 5% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 3.

Giai đoạn 2035-2045:

Đến năm 2040: Ít nhất 40% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 1; phấn đấu có 15% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 2 và 10% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 3.

Đến năm 2045: Ít nhất 50% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 1; phấn đấu có 20% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 2 và 15% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt Mức độ 3.

Đối với giáo dục thường xuyên

Giai đoạn 2025-2030: Ít nhất 20% số cơ sở giáo dục thường xuyên (có đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh và bồi dưỡng các môn học khác bằng tiếng Anh) đạt Mức độ 1; phấn đấu 5% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 2.

Giai đoạn 2030-2035: Ít nhất 40% số cơ sở giáo dục thường xuyên (có đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh và bồi dưỡng các môn học khác bằng tiếng Anh) đạt Mức độ 1; phấn đấu 10% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 2 và 5% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 3.

Giai đoạn 2035-2045:

Đến năm 2040: Ít nhất 50% số cơ sở giáo dục thường xuyên(có đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh và bồi dưỡng các môn học khác bằng tiếng Anh) đạt Mức độ 1; phấn đấu 15% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 2 và 10% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 3.

Đến năm 2045: Ít nhất 60% số cơ sở giáo dục thường xuyên (có đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh và bồi dưỡng bằng tiếng Anh) đạt Mức độ 1; phấn đấu 20% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 2 và 15% số cơ sở giáo dục thường xuyên đạt Mức độ 3.

Yến Hoa

Bình luận (0)