Người ta hay dùng chữ “bác học” để chỉ sở học của một người. Hai chữ “sở học” người viết dùng ở đây là từ câu nói nổi tiếng của danh y Lê Hữu Trác: “Thà tôi đắc tội với cổ nhân còn hơn là tôi phụ sở học của tôi”. Lại nhớ đến nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi khi viết về Lê Quý Đôn, rằng trong mỗi trang sách của ông có liên hệ đến khoảng 50 tư liệu (cuốn sách) khác. Đó cũng là lý do mà người ta tôn vinh Lê Quý Đôn là nhà bác học.

Lịch sử văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XIX đã ghi dấu ấn của một nhân vật lịch sử đặc biệt: Trương Vĩnh Ký – Pétrus Ký (1837-1898). Ông là một học giả lỗi lạc, là “nhà văn và nhà bác học Việt Nam” (Tự điển Văn học, bộ mới, NXB Thế giới, 2004, tr.1865) có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ, giáo dục và văn hóa. Ông không chỉ nổi tiếng bởi tri thức uyên bác mà còn bởi những đóng góp quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ.
Cuộc đời và tư tưởng – “cuốn sổ bình sanh công với tội”
Trương Vĩnh Ký sinh tại Vĩnh Long, trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất thông minh và lòng ham học hiếm có. Thuở thiếu niên, ông được gửi vào học tại các chủng viện trong nước, sau đó chuyển sang Trường đạo Pinhalu (Campuchia), Pinang (Malaysia) để tiếp tục học tập. Chính môi trường giáo dục này đã giúp ông tiếp xúc với nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Nhờ năng lực xuất sắc, Trương Vĩnh Ký có thể “nói giỏi 15 sinh ngữ, tử ngữ phương Tây, và biết vững vàng 11 ngôn ngữ phương Đông” (Nguyễn Huệ Chi, Tự điển Văn học, bộ mới, đã dẫn, tr.1866). Sự am hiểu sâu rộng ấy đã giúp ông trở thành một trong những trí thức hiếm hoi của Việt Nam thời bấy giờ có khả năng giao lưu tri thức Đông – Tây một cách hiệu quả. Chính điều này đã đặt nền móng cho những đóng góp lớn lao của ông về sau.
Trương Vĩnh Ký từng làm thông ngôn và giảng dạy tại các trường do chính quyền Pháp thành lập. Dù vai trò này còn gây nhiều tranh luận, nhưng không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng của ông trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục. Thông qua việc viết sách, biên soạn tài liệu và giảng dạy, ông đã góp phần giúp chữ Quốc ngữ dần trở nên phổ biến, thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Không chỉ dừng lại ở đó, Trương Vĩnh Ký còn là một nhà biên soạn và dịch thuật xuất sắc. Ông để lại hơn 100 công trình (theo Từ điển Văn học, đã dẫn, là 118 tác phẩm) thuộc nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, dịch thuật, sưu tầm nghiên cứu, sáng tác văn học và ngôn ngữ học. Những công trình này không chỉ giúp người nước ngoài hiểu hơn về Việt Nam mà còn góp phần bảo tồn và truyền bá các giá trị văn hóa dân tộc.
Về mặt tư tưởng, Trương Vĩnh Ký là người có tinh thần học hỏi, cởi mở và tiến bộ. Ông tiếp thu tri thức phương Tây nhưng không phủ nhận giá trị của văn hóa truyền thống. Ngược lại, ông luôn tìm cách dung hòa giữa hai nền văn hóa, qua đó góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam đương thời. Tuy nhiên, cuộc đời của Trương Vĩnh Ký cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Việc ông làm việc cho chính quyền thực dân Pháp khiến một số người cho rằng ông có phần thỏa hiệp với chế độ cai trị. Song, cũng có nhiều ý kiến nhìn nhận ông như một trí thức yêu nước theo cách riêng, đã tận dụng hoàn cảnh để đóng góp cho sự phát triển lâu dài của văn hóa dân tộc.
Nỗi lòng công và tội được chính cụ Pétrus Ký gửi lại hậu thế qua bài thơ Tuyệt bút. Bài thơ này được PGS.TS Trần Hữu Tá đọc trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày Trương Vĩnh Ký mất (1998) tại ngôi trường mang tên ông ở TP.HCM: Quanh quanh, quẩn quẩn lối đường quai,/ Xô đẩy người vô giữa cuộc đời,/ Học thức gửi tên con mọt sách,/ Công danh rốt cuộc cái quan tài./ Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,/ Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài./ Cuốn sổ bình sanh công với tội,/ Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
Sau thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, khoảng từ đầu thập niên 1990, nhiều cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký đã được tổ chức. Nhiều nhận định thấu suốt về ông. Từ đây, người ta nhìn lại nhân vật lịch sử theo hướng đa chiều, công lao to lớn của Trương Vĩnh Ký đã được ghi nhận lại. Tên ông được đặt cho trường học và tên đường. Tác giả Trần Thanh Ái (trong bài viết Một số điều ít được biết về Trương Vĩnh Ký, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, tháng 11 năm 2022) viết: “Nói như một nhà văn, “núi cao (thì) mây phủ” (ý nói đến cuốn sách Núi cao mây phủ viết về cụ Trương Vĩnh Ký của tác giả Trần Thị Nim), do đó muốn quan sát đỉnh núi thì phải nâng mình lên đến độ cao nào đó mới mong nhìn thấy được núi”.
Người có công với việc truyền bá chữ Quốc ngữ
Theo nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, chữ Quốc ngữ của ta ngày nay là thứ chữ viết theo lối La tinh do các cố đạo sĩ đặt ra để tiện việc truyền đạo Thiên Chúa. Cuối thế kỷ XVI, có các giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Gaspard Amiral và Antoine Barbore đến miền Bắc (Bắc Kỳ) nước ta. Tiếp đến là ông Alexandre de Rhodes tới Nam Kỳ (1624). Để giúp các cha cố ở miền Bắc, năm 1625, Alexandre de Rhodes ra Bắc Kỳ. Năm 1651, ông cho xuất bản hai quyển bằng Quốc ngữ, mà theo Alexandre de Rhodes thì hai quyển này soạn theo bản của hai giáo sĩ Gaspard Amiral và Antoine Barbore. Từ đây, Vũ Ngọc Phan kết luận: “Như vậy, thứ chữ Quốc ngữ chúng ta hiện dùng ngày nay không phải do một người đặt ra, mà do ở nhiều người góp sức. Điều chắc chắn là cố Alexandre de Rhodes là người thông thạo tiếng Việt Nam nhất, đã có công đầu trong công việc nghiên cứu” (Nhà văn hiện đại, NXB Khoa học – Xã hội, 1989, tr.18).
Các nhà nghiên cứu cho rằng chữ Quốc ngữ tuy căn cứ vào giọng miền Bắc nước ta, nhưng bắt đầu được thông dụng, được học tập, được in ra sách, lại là công của đồng bào ta trong Nam Kỳ lúc bấy giờ. Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng thừa nhận: “Ở nước ta, những người theo đạo Da-tô đã dùng chữ Quốc ngữ đầu tiên, song ngoài phạm vi đạo giáo, người Nam Kỳ là những người Việt Nam đã dùng chữ Quốc ngữ trước nhất”. Và chữ Quốc ngữ có được sự mẫu mực và được lan rộng ở Nam Kỳ sớm hơn cả là nhờ các nhà học giả đã thâu thái được học thuật Âu Tây trong hồi người Pháp mới đến nước Nam. Trong số những nhà học giả Việt Nam theo Tây học ấy, người ta phải kể đến công lao hai người có tiếng nhất là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Trai (tức Paulus Của). Những cuốn sách Trương Vĩnh Ký diễn ra chữ Quốc ngữ, như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Đại Nam quốc sử ký diễn ca, Lục súc tranh công, Truyện Phan Trần, Gia huấn ca…; và nhiều sách dịch như Tứ thư, Tam tự kinh, Tam thiên tự, Minh tâm bảo giám… xuất phát từ tinh thần dân tộc, muốn cổ vũ việc học và thông thạo chữ Quốc ngữ để dễ dàng sử dụng, để khai sáng quốc dân từ tấm lòng vì dân của Trương Vĩnh Ký.
Có thể khẳng định lại nhà bác học Trương Vĩnh Ký là một trí thức tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XIX, người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp học thuật và văn hóa. Việc đọc lại ông không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về một con người đặc biệt mà còn giúp nhìn nhận sâu sắc hơn về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của dân tộc.
Trần Ngọc Tuấn

Bình luận (0)