Từ đại ngàn Trường Sơn chảy về biển Nam Ô, sông Cu Đê không chỉ nuôi sống những bản làng người Cơ Tu ở Tà Lang, Giàn Bí mà còn giữ vai trò quan trọng với an ninh nguồn nước phía Tây bắc Đà Nẵng. Giữa áp lực đô thị hóa và biến đổi khí hậu, hành trình giữ nguồn nước dòng sông trong sạch đang bắt đầu từ chính cộng đồng sống ven sông…

Dòng sông Cu Đê bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, men theo núi rừng rồi đổ ra vịnh Nam Ô. Không chỉ là cảnh quan du lịch nổi tiếng ở phía Tây bắc Đà Nẵng, con sông này còn giữ vai trò quan trọng trong cấp nước sinh hoạt, bảo vệ hệ sinh thái và đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương. Đặc biệt, khu vực hồ sông Bắc ở thượng nguồn Cu Đê còn được xem là “kho dự trữ nước” quan trọng của Đà Nẵng trong chiến lược đảm bảo an ninh nguồn nước, giảm phụ thuộc vào hệ thống sông Vu Gia. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, lưu vực Cu Đê cũng đối mặt ngày càng nhiều sức ép. Những hoạt động canh tác trên đất dốc, chăn nuôi nhỏ lẻ, khai thác rừng, xả thải thiếu kiểm soát hay các hình thức khai thác thủy sản tận diệt từng khiến chất lượng nước và hệ sinh thái bị ảnh hưởng. Những đợt nắng nóng kéo dài vào mùa hè càng làm áp lực lên nguồn nước đầu nguồn thêm rõ rệt…
Mỗi người dân là một “lá chắn”
Xuất phát từ thực tế trên địa bàn, mô hình “Cộng đồng giám sát nguồn nước” được triển khai trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy sự tham gia của người dân trong bảo vệ môi trường và quản lý bền vững tài nguyên nước tại Đà Nẵng giai đoạn 2024-2027”.
Theo đó, ở tổ dân phố Giàn Bí và Tà Lang, các tổ giám sát duy trì hoạt động định kỳ hằng tuần. Các thành viên quan sát màu nước, độ đục, theo dõi thủy sinh, kiểm tra các nguồn xả thải và những hành vi có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường sông suối. Việc tuần tra không chỉ dừng ở ghi nhận hiện trạng mà còn gắn với nhắc nhở người dân, du khách nâng cao ý thức khi tham quan, tắm suối.
Ông Hà Xuân Tàu – Tổ phó Tổ giám sát và bảo vệ dòng sông tại Tà Lang – cho biết: “Tổ có 6 thành viên, chia thành các nhóm phụ trách khu vực thượng nguồn. Chúng tôi sử dụng thiết bị đo nhanh chất lượng nước, cập nhật dữ liệu thường xuyên. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường sẽ tăng tần suất kiểm tra để kịp thời xử lý”.
Không chỉ đo nước, người dân còn chủ động phản ánh những hoạt động vi phạm như kích điện bắt cá, sử dụng hóa chất độc hại hay đào đãi vàng trái phép đến lực lượng chức năng để hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn nước đầu nguồn.
Theo ông Nguyễn Văn Trung – Trưởng ban Công tác Mặt trận tổ dân phố Tà Lang, người dân nơi đây sử dụng nước khe, suối cho sinh hoạt hằng ngày nên ý thức gìn giữ nguồn nước đã hình thành từ rất lâu.
“Dòng sông chính là mạch sống của người dân, không thể tách rời khỏi đời sống. Vì vậy, sức khỏe của dòng sông là yếu tố quan trọng nhất đối với cộng đồng”, ông Trung nói.

Cộng đồng chung tay
Theo Trung tâm Nghiên cứu môi trường và cộng đồng (CECR), dự án đã xây dựng bộ dữ liệu nền về “sức khỏe dòng sông”, gồm các báo cáo thủy văn, chất lượng nước và hiện trạng sinh cảnh trên lưu vực Cu Đê. Đồng thời, các bản đồ khu vực nguy cơ ngập lụt, sạt lở cũng được hoàn thiện để phục vụ công tác quản lý và ứng phó rủi ro tại địa phương. Thông qua các lớp tập huấn, người dân được hướng dẫn nhận biết dấu hiệu thay đổi của nguồn nước, sử dụng thiết bị đo pH, độ đục, độ mặn và ghi chép định kỳ. Từ đó, thông tin môi trường dần trở thành “công cụ của người dân”.
Ở Nam Mỹ, các tổ giám sát định kỳ lấy mẫu nước tại ngã ba sông Cu Đê với khe Đào để kiểm tra chất lượng nước. Những dữ liệu đo được cùng quan sát thực tế được cập nhật lên hệ thống thông tin và bản đồ số trực tuyến, giúp địa phương và cơ quan chức năng theo dõi thường xuyên diễn biến nguồn nước đầu nguồn.
Các tổ giám sát cộng đồng tại Bắc An, Thạch Bồ, Bồ Bản, Thái Lai cũng triển khai hoạt động tương tự tại sông Yên, Túy Loan và hồ Bàu Trai nhằm góp phần bảo vệ nguồn nước cho sinh hoạt, nông nghiệp và các nhà máy nước lớn của Đà Nẵng.
Theo bà Nguyễn Ngọc Lý – Chủ tịch Hội đồng quản lý Trung tâm CECR, sau thời gian triển khai tại 7 thôn, tổ dân phố dọc các lưu vực sông, mô hình đã cho thấy rõ vai trò chủ thể của người dân trong bảo vệ môi trường và nguồn nước theo đúng tinh thần pháp luật hiện hành. Sự thay đổi ấy thể hiện trong hành động cụ thể. Người dân hiểu hơn về vai trò của các loài thủy sinh chỉ thị như cá niên, ốc suối; từ đó hình thành thói quen khai thác theo hướng bền vững, hạn chế tận diệt. Trên thực tế, việc giữ gìn dòng sông không thể chỉ dựa vào cơ quan quản lý. Khi người dân trực tiếp tham gia bảo vệ nguồn nước, mỗi dòng sông sẽ có thêm một “lá chắn” bền vững trước áp lực đô thị hóa và biến đổi khí hậu.
Hàn Giang

Bình luận (0)