Sự kiện giáo dụcVấn đề - Sự kiện

Cần giải pháp bảo vệ mạnh mẽ trẻ em trước bạo hành

Tạp Chí Giáo Dục

Khi liên tc b bo hành hoc b b bê, cơ th tr em s phn ng theo bn năng sinh tn như khi đng trưc mt mi đe da nghiêm trng. Đau đn hơn, khi s đe da xut phát t chính cha m tr (nhng ngưi vn đm bo nhu cu ăn ung và s an toàn cơ bn ca tr), não b tr buc phi luôn trong trng thái bt an, cnh giác đ thích nghi, tn ti.

Trẻ em mầm non trong một hoạt động học tập

TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh (Chủ nhiệm Bộ môn Tâm lý học, ĐH RMIT Việt Nam) đã đưa ra những cảnh báo trên khi chia sẻ về tác động tâm lý của bạo hành trẻ em cùng các giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ trẻ.

Có th tn hi tinh thn sut đi

Theo TS. Quỳnh Anh, não bộ trẻ em vẫn đang trong quá trình phát triển nhanh, đặc biệt là vùng não chịu trách nhiệm cho kiểm soát hành vi và điều tiết cảm xúc. Trong quá trình hoàn thiện này, môi trường chăm sóc có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của trẻ. Khi liên tục bị bạo hành hoặc bị bỏ bê, cơ thể trẻ sẽ phản ứng theo bản năng sinh tồn như khi đứng trước một mối đe dọa nghiêm trọng. Hóc môn căng thẳng được tiết ra liên tục và cơ thể trẻ sẽ phản ứng bằng trạng thái “chiến đấu”, “bỏ chạy” hoặc “đóng băng” để bảo vệ bản thân. Nếu thường xuyên sống trong sự sợ hãi và đe dọa, trẻ sẽ bị rơi vào trạng thái “căng thẳng độc hại”. Đau đớn hơn, khi sự đe dọa xuất phát từ chính cha mẹ trẻ  (những người vốn đảm bảo nhu cầu ăn uống và sự an toàn cơ bản của trẻ), não bộ trẻ buộc phải luôn ở trong trạng thái bất an, cảnh giác để thích nghi, tồn tại ở chính mái ấm – nơi đáng ra an toàn nhất của mình.

“Những tổn thương âm ỉ này khiến não bộ bị tái cấu trúc. Vùng điều khiển phản ứng ứng phó “chiến đấu hoặc bỏ chạy” phát triển quá mức; trong khi các vùng chịu trách nhiệm điều tiết cảm xúc, tư duy nhận thức và khả năng phán đoán bị kìm hãm. Trẻ tập trung kém hơn, học tập giảm sút, không thể xử lý thông tin thường ngày và trở nên chậm chạp, ngơ ngác” – TS. Quỳnh Anh nêu cảnh báo.

TS. Quỳnh Anh dẫn lại nghiên cứu được công bố bởi Viện hàn lâm Nhi khoa Mỹ cho thấy, cả bạo hành lẫn bỏ bê trẻ đều dẫn đến chậm phát triển nhận thức nghiêm trọng và thất bại trong học tập kéo dài từ thơ ấu đến khi trưởng thành. Sự bỏ bê có thể làm suy giảm khả năng xử lý cảm xúc và tác hại này có thể kéo dài đến tận tuổi trung niên. Ngược đãi trẻ em, đặc biệt là bạo hành tinh thần và bỏ bê gây ra hàng loạt hậu quả tiêu cực lâu dài với sức khỏe lẫn sự phát triển của trẻ.

Đặc biệt, tổn thương càng nghiêm trọng hơn với trẻ em tuổi càng nhỏ. Trẻ bị bỏ bê trong bốn năm đầu đời cho thấy sự suy giảm dần chức năng nhận thức, đi kèm với việc chu vi vòng đầu giảm rõ rệt. Thế nhưng hậu quả nghiêm trọng nhất của bạo hành là phá vỡ sự hình thành niềm tin và làm đứt gãy cảm giác an toàn cũng như khả năng kết nối cảm xúc của trẻ. Trẻ lẽ ra phải học rằng thế giới này an toàn, rằng người lớn có thể tin cậy và bản thân mình xứng đáng được yêu thương thì lại chỉ học được những điều hoàn toàn ngược lại. TS. Quỳnh Anh cho rằng, những trải nghiệm hằn sâu vào tâm trí từ những năm tháng đầu đời này nếu không được can thiệp có thể kéo dài suốt cuộc đời. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không còn hy vọng. Với sự hỗ trợ kịp thời, trẻ hoàn toàn có thể phục hồi. Đó cũng là lý do vì sao can thiệp sớm không phải là lựa chọn mà là điều cấp thiết.

Cn xem là trách nhim xã hi thay vì chuyn riêng ca tng gia đình

TS. Quỳnh Anh chia sẻ, các quốc gia như Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan xây dựng hệ thống phúc lợi trẻ em dựa trên hỗ trợ sớm thay vì chỉ phản ứng sau khi sự việc xảy ra. Trong đó, cách tiếp cận của Na Uy nhấn mạnh vào phòng ngừa, can thiệp sớm và hỗ trợ. Khoảng 80% trẻ em trong hệ thống phúc lợi của nước này nhận được các dịch vụ hỗ trợ thay vì chỉ bị điều tra hoặc tách khỏi gia đình. Triết lý cốt lõi là gia đình gặp khó khăn cần được giúp đỡ trước khi tổn hại xảy ra. Điều này đòi hỏi đầu tư lâu dài vào các dịch vụ phổ quát như chăm sóc sức khỏe, chương trình kỹ năng làm cha mẹ và hỗ trợ học đường để tiếp cận gia đình trước khi khủng hoảng xuất hiện.

Từ kinh nghiệm các nước này, TS. Quỳnh Anh cho rằng, việc bảo vệ trẻ em hiệu quả nhất khi được xem là trách nhiệm xã hội thay vì là chuyện riêng của từng gia đình. Nhiều quốc gia đã đạt được sự đồng thuận đáng kể về việc đầu tư từ sớm, xây dựng niềm tin cộng đồng, đào tạo và cung cấp nguồn lực cho lực lượng tuyến đầu, đồng thời xem an toàn của trẻ là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Việc bảo vệ trẻ em hiệu quả còn đòi hỏi sự phối hợp liên ngành; ở đó, ngành y tế, giáo dục, công tác xã hội, công an và cộng đồng phải chia sẻ thông tin, phối hợp trách nhiệm.

Với Việt Nam, TS. Quỳnh Anh đề xuất khẩn cấp xây dựng nhiều hệ thống hỗ trợ. Thứ nhất, cần có cơ chế báo cáo bắt buộc. Những quốc gia có hệ thống bảo vệ trẻ em hiệu quả đều yêu cầu một số nhóm nghề nghiệp như giáo viên, nhân viên y tế, công tác xã hội và công an phải báo cáo các trường hợp nghi ngờ bạo hành. Việt Nam có thể tăng cường cơ chế này bằng các quy trình rõ ràng và biện pháp bảo vệ pháp lý cho người báo cáo. Thứ hai, cần chú trọng công tác xã hội dựa vào cộng đồng. Những gia đình đang khủng hoảng cần có người hỗ trợ trước khi tình hình trở nên nghiêm trọng. Đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại địa phương được đào tạo bài bản, có khả năng nhận diện các gia đình dễ tổn thương và kết nối họ với nguồn hỗ trợ.

Thứ ba, phổ biến việc hỗ trợ sức khỏe tâm thần và kỹ năng làm cha mẹ. “Nhiều phụ huynh bạo hành con cái thực chất đang đối mặt với những căng thẳng, áp lực cuộc sống hoặc với những tổn thương tâm lý chưa được điều trị hoặc đơn giản vì họ chưa từng được tiếp cận các mô hình nuôi dạy con không bạo lực. Khi không thể kiểm soát cơn giận và sự bực tức cũng như không hiểu vì sao trẻ lại “khó bảo” đến thế, họ trút đòn roi lên con trẻ. Vì thế, các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần và chương trình giáo dục kỹ năng làm cha mẹ, đặc biệt dành cho các gia đình trẻ chịu nhiều áp lực là công cụ phòng ngừa thiết yếu” – TS. Quỳnh Anh nhấn mạnh.

Thứ tư, cần hệ thống chăm sóc thay thế chất lượng. Với những trẻ không thể tiếp tục sống an toàn cùng gia đình, cần có các mô hình chăm sóc thay thế và cơ sở nuôi dưỡng được đầu tư đầy đủ, giám sát chặt chẽ và ưu tiên phúc lợi của trẻ thay vì chỉ thuận tiện về mặt hành chính. Thứ năm, giáo dục quyền trẻ em từ sớm. Trẻ cần được học (theo cách phù hợp với độ tuổi) rằng cơ thể là của mình và luôn có những người lớn đáng tin cậy để tìm đến khi cần giúp đỡ. Nhà trường và cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc này.

Mê Tâm

Bình luận (0)