Nhịp cầu sư phạmChuyện học đường

Kiến tạo hệ sinh thái giáo dục – nghề nghiệp: Tích hợp từ đổi mới giáo dục phổ thông đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Tạp Chí Giáo Dục

Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong 3 đột phá chiến lược, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy sự phát triển của hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn còn phân mảnh, thiếu liên thông và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường lao động…

Giờ thực hành của học viên trường nghề tại TP.HCM  

Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao đặt ra một mệnh lệnh lịch sử cho hệ thống giáo dục quốc dân. Chúng ta cần một lực lượng lao động không chỉ đông đảo về số lượng mà phải tinh nhuệ về chất lượng, có khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo và làm chủ được các công nghệ tiên tiến.

Tuy nhiên, khi soi chiếu vào thực tiễn, một bức tranh với nhiều mảng màu đối lập hiện ra. Dù đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam vẫn đang đối mặt với một thách thức cố hữu: sự phân mảnh, thiếu liên kết và tính không đồng bộ. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhưng vẫn gặp vô vàn khó khăn từ tuyển sinh, chất lượng đội ngũ nhà giáo, đến sự gắn kết lỏng lẻo với doanh nghiệp. Hệ thống giáo dục đại học, dù đã có những bước tiến vượt bậc về công bố quốc tế và tự chủ, vẫn chưa thực sự đáp ứng kỳ vọng về việc đào tạo ra một đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành hùng hậu.

Sự thiếu liên thông giữa các cấu phần này tạo ra những “đứt gãy” trong quá trình phát triển của một con người, từ ghế nhà trường phổ thông đến khi bước vào thị trường lao động. Học sinh phổ thông mông lung về con đường sự nghiệp; sinh viên trường nghề ra trường vẫn cần doanh nghiệp đào tạo lại; và nhiều cử nhân đại học chật vật tìm kiếm việc làm phù hợp với chuyên ngành. Doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động, vẫn đứng ở thế bị động, kêu ca về chất lượng nhân lực nhưng lại chưa thực sự tham gia sâu vào quá trình đào tạo.

Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực: Những mảnh ghép rời rạc

Bức tranh tổng thể về đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay là một tập hợp của những nỗ lực đáng ghi nhận ở từng lĩnh vực riêng lẻ, nhưng lại thiếu vắng sự kết nối hữu cơ để tạo thành một sức mạnh tổng hợp.

Giáo dục phổ thông, với vai trò là bậc học nền tảng, có sứ mệnh trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cơ bản để trở thành công dân tốt và tiếp tục học lên cao hoặc tham gia thị trường lao động. Tuy nhiên, chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam trong một thời gian dài vẫn bị đánh giá là còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành. Điều này dẫn đến hai hệ quả lớn:

Công tác phân luồng và hướng nghiệp kém hiệu quả: Tâm lý coi trọng bằng cấp đại học vẫn còn phổ biến trong xã hội, cùng với việc công tác hướng nghiệp trong nhà trường còn hình thức, đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh khốc liệt vào đại học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS, THPT vào các trường nghề còn thấp. Nhiều học sinh lựa chọn ngành học theo “trào lưu” hoặc áp lực từ gia đình mà không dựa trên sở thích, năng lực và nhu cầu của xã hội, dẫn đến tình trạng học không đúng ngành, ra trường làm trái nghề. Các chính sách khuyến khích học sinh khá, giỏi vào hệ thống GDNN dù đã được đề ra nhưng hiệu quả chưa cao.

Giáo dục nghề nghiệp: Bên cạnh những điểm sáng, GDNN vẫn phải đối mặt với vô vàn thách thức mang tính hệ thống:

Tuyển sinh khó khăn, đây là bài toán nan giải nhất. Mặc dù nhu cầu nhân lực có tay nghề của ngành công nghiệp là rất lớn, nhiều trường nghề vẫn không tuyển đủ chỉ tiêu. Nguyên nhân sâu xa đến từ nhận thức xã hội và sự thất bại của công tác phân luồng ở bậc phổ thông.

Sinh viên một trường ĐH tại TP.HCM trong giờ học thực hành

Chất lượng đội ngũ nhà giáo chưa đồng đều: Chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo được xem là “khâu đột phá để nâng cao chất lượng GDNN”. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn bất cập. Dù 100% nhà giáo các trường chất lượng cao đạt chuẩn về chuyên môn , nhưng trên bình diện chung, vẫn còn thiếu những nhà giáo vừa giỏi chuyên môn, vững kỹ năng nghề, lại thành thạo về ngoại ngữ, tin học và phương pháp sư phạm hiện đại. Chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng cũng là một rào cản trong việc thu hút và giữ chân người tài.

Nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp: Ngân sách Nhà nước đầu tư cho GDNN còn thấp, chưa tương xứng với nhiệm vụ. Kinh phí để thực hiện mục tiêu đến năm 2025 có khoảng 70 trường chất lượng cao là rất thách thức. Cơ sở vật chất, trang thiết bị ở nhiều trường còn lạc hậu, chưa theo kịp công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.

Sự gắn kết với doanh nghiệp còn lỏng lẻo: Mặc dù đã có nhiều mô hình hợp tác, mối quan hệ này phần lớn vẫn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Doanh nghiệp chưa thực sự chủ động tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, đào tạo và đánh giá. Khung pháp lý về trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề chưa được áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

Doanh nghiệp đứng ngoài, chính sách chưa đồng bộ

Đây là “điểm nghẽn” lớn nhất, là nguyên nhân sâu xa của những hạn chế đã nêu. Các cấu phần của hệ thống giáo dục hoạt động như những ốc đảo, thay vì một quần đảo được kết nối bằng những cây cầu vững chắc.

Khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp: Hầu hết các tài liệu đều chỉ ra điểm yếu này. Doanh nghiệp còn thụ động, thiếu thông tin về cơ chế, chính sách khi tham gia đào tạo nghề. Mối quan hệ giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Các cơ chế, chính sách cụ thể để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo nhân lực chất lượng cao còn chưa hoàn thiện.

Chính sách thiếu đồng bộ và nhất quán: Việc triển khai một số nhiệm vụ còn chậm, thiếu cụ thể. Các quy định về tài chính còn vướng mắc. Cơ chế đặt hàng giao nhiệm vụ trong lĩnh vực GDNN còn chưa rõ. Sự thiếu nhất quán này tạo ra một môi trường chính sách không ổn định, gây khó khăn cho cả cơ sở giáo dục và doanh nghiệp trong việc xây dựng các chiến lược hợp tác dài hạn.

Cần kiến tạo hệ sinh thái giáo dục – nghề nghiệp tích hợp

Để giải quyết những thách thức mang tính hệ thống đã phân tích, Việt Nam cần một cách tiếp cận tổng thể, đó là kiến tạo một Hệ sinh thái GDNN tích hợp. Hệ sinh thái này được xây dựng dựa trên tầm nhìn về một nền giáo dục mở, linh hoạt, thực học, thực nghiệp, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước. Mô hình này bao gồm bốn trụ cột chính, tương tác và hỗ trợ lẫn nhau.

Cải cách toàn diện Giáo dục phổ thông theo hướng mở và định hướng

Giáo dục phổ thông phải là mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho mọi con đường sự nghiệp, không chỉ riêng con đường vào đại học. Để làm được điều đó, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Xây dựng chương trình tích hợp “Học vấn phổ thông – Kỹ năng nền tảng – Định hướng nghề nghiệp”: Cần giảm tải kiến thức hàn lâm, tăng cường các hoạt động trải nghiệm, dự án học tập gắn với thực tiễn. Tích hợp các kỹ năng mềm (tư duy phản biện, sáng tạo, giao tiếp, hợp tác) vào tất cả các môn học. Đặc biệt, cần đưa các mô-đun giới thiệu về thế giới nghề nghiệp, về các ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước vào chương trình học ngay từ bậc THCS.

Chuyên nghiệp hóa công tác tư vấn hướng nghiệp: Cần xây dựng đội ngũ giáo viên tư vấn hướng nghiệp chuyên trách, được đào tạo bài bản.

Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Chuyển từ việc đánh giá chủ yếu dựa trên khả năng ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực toàn diện của học sinh, bao gồm cả kỹ năng, thái độ và khả năng vận dụng kiến thức.

Cần hoàn thiện cơ chế để các cơ sở GDNN có thể triển khai hiệu quả chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT. Điều này mở ra một con đường hấp dẫn cho học sinh tốt nghiệp THCS: vừa có thể học nghề sớm, vừa có thể hoàn thành chương trình văn hóa để có cơ hội liên thông lên các bậc học cao hơn.

Chuẩn hóa và hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế

Chuẩn hóa toàn diện đội ngũ nhà giáo: Đây là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo. Cần xây dựng và áp dụng nghiêm ngặt bộ tiêu chuẩn nhà giáo GDNN.

Nhà giáo phải có trình độ chuyên môn vững vàng và kỹ năng thực hành nghề ở bậc cao. Năng lực sư phạm phải được đào tạo về các phương pháp giảng dạy hiện đại, dựa trên năng lực, lấy người học làm trung tâm. Trình độ ngoại ngữ và tin học phải có khả năng đọc hiểu tài liệu chuyên ngành quốc tế và ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số vào giảng dạy.

Cần có chính sách đãi ngộ đột phá để thu hút các nghệ nhân, chuyên gia, kỹ sư giỏi từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Đồng thời, phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo ở nước ngoài, đặc biệt là các ngành nghề trọng điểm.

Hiện đại hóa chương trình và cơ sở vật chất

Chương trình đào tạo phải được phát triển theo hướng “mở” và “liên thông”, dựa trên các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đã được cập nhật, tiếp cận chuẩn của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Chương trình phải được xây dựng với sự tham gia sâu của doanh nghiệp.

Nhà nước cần ưu tiên đầu tư đồng bộ cho các trường nghề chất lượng cao, các ngành nghề trọng điểm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, xây dựng các “nhà trường thông minh”, “xưởng thực hành ảo”  để người học được tiếp cận với công nghệ mới nhất mà không cần đầu tư quá tốn kém.

Phải phát triển các tổ chức kiểm định chất lượng độc lập, có uy tín. Kết quả kiểm định phải được công khai, minh bạch, là cơ sở để Nhà nước đầu tư, doanh nghiệp hợp tác và người học lựa chọn.

Phát huy vai trò hạt nhân của doanh nghiệp

Doanh nghiệp không thể chỉ là người “sử dụng sản phẩm” của giáo dục, mà phải là người “đồng kiến tạo” ra sản phẩm đó. Cần có những cơ chế đột phá để đưa doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của hoạt động GDNN.

Cần hoàn thiện khung pháp lý, trong đó quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tiếp nhận sinh viên thực tập, tham gia giảng dạy, đóng góp kinh phí đào tạo. Song song đó là những quyền lợi hấp dẫn: được trừ chi phí đào tạo vào thu nhập chịu thuế, được ưu tiên trong các gói thầu của chính phủ, được đặt hàng đào tạo theo nhu cầu và được công nhận là “cơ sở đào tạo tại doanh nghiệp”.

Nhân rộng mô hình đào tạo kép và các hình thức hợp tác sâu: Khuyến khích và hỗ trợ các trường và doanh nghiệp xây dựng các mô hình hợp tác thực chất như:

Doanh nghiệp dành một phần xưởng sản xuất làm nơi thực hành cho sinh viên. Đầu tư trang thiết bị hiện đại cho trường và cử chuyên gia sang hướng dẫn.

Nhà nước và các địa phương cần chuyển đổi phương thức cấp ngân sách từ “cho không” sang “đặt hàng” dựa trên nhu-cầu-xã-hội. Các trường nghề, trường đại học sẽ phải cạnh tranh để có được các “đơn hàng” đào tạo, dựa trên năng lực và cam kết về chất lượng đầu ra (tỷ lệ có việc làm, mức lương khởi điểm…).

Một vài kiến nghị

Để hiện thực hóa tầm nhìn này, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị:

Khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành “Chiến lược Quốc gia về Phát triển Hệ sinh thái Giáo dục – Nghề nghiệp đến năm 2035, tầm nhìn 2045”, coi đây là một chương trình trọng điểm quốc gia.

Chỉ đạo quyết liệt việc hoàn thiện các khung khổ pháp lý về tự chủ đại học, về hợp tác công-tư trong giáo dục, và đặc biệt là các chính sách đột phá về thuế và tài chính để khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào đào tạo.

Tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước, theo cơ chế đặt hàng, cho các trường chất lượng cao và các ngành, nghề trọng điểm, tạo ra các “đầu tàu” dẫn dắt sự phát triển của toàn hệ thống.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp chặt chẽ để xây dựng một Khung trình độ Quốc gia thống nhất, liên thông và có lộ trình công nhận tương đương với các nước trong khu vực. Quyết liệt đổi mới chương trình và phương pháp dạy học ở bậc phổ thông theo hướng tăng cường giáo dục STEM, kỹ năng mềm và hướng nghiệp. Thiết lập và vận hành một hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục (cả đại học và GDNN) độc lập, chuyên nghiệp và minh bạch.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo chủ động và sáng tạo trong việc thực thi quyền tự chủ, xây dựng các chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra và nhu cầu xã hội. Coi việc “bắt tay” với doanh nghiệp là một nhiệm vụ sống còn, thay đổi tư duy từ “xin tài trợ” sang “hợp tác cùng có lợi”. Đầu tư mạnh mẽ cho việc phát triển đội ngũ nhà giáo, coi đây là tài sản quý giá nhất của nhà trường.

Và sau cùng, cộng đồng doanh nghiệp nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội và lợi ích lâu dài của việc đầu tư vào đào tạo. Chủ động tham gia vào các hội đồng trường, hội đồng kỹ năng ngành, đóng góp vào việc xây dựng chương trình và trực tiếp tham gia giảng dạy…

TS. Uông Thị Lê Na – ThS. Phạm Thị Hải Yến

Bình luận (0)