Đề thi ngữ văn tuyển sinh vào lớp 10 TP.HCM năm 2026 được đánh giá là một đề thi chuẩn mực trong đánh giá năng lực và giá trị giáo dục của môn học. Quan trọng hơn, đề đã cho thấy một quan niệm đúng đắn về việc dạy và học ngữ văn trong nhà trường hôm nay: học Văn còn để con người biết rung động, biết suy nghĩ và biết sống tử tế hơn giữa cuộc đời.
Thạc sĩ Trần Lê Duy – giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đánh giá, đề thi tuyển sinh lớp 10 môn ngữ văn TP.HCM năm 2026 là một đề thi đẹp, chỉn chu và có chất lượng chuyên môn tốt. Với chủ đề “Những sắc màu cảm xúc”, đề không chỉ tạo được sự thống nhất về tư tưởng giữa hai phần đọc – viết mà còn chạm đến một vấn đề rất gần gũi, cần thiết đối với người trẻ hôm nay: khả năng nhận biết, nuôi dưỡng và sống sâu sắc với thế giới cảm xúc của chính mình và của người khác.

Trước hết, theo thạc sĩ Trần Lê Duy, đề thể hiện rõ tính khoa học trong cấu trúc và cách tổ chức các yêu cầu đánh giá. Hai phần của đề được phân bố cân đối: đọc hiểu văn bản văn học kết hợp viết đoạn văn nghị luận văn học; đọc hiểu văn bản nghị luận kết hợp viết bài văn nghị luận xã hội. Cách thiết kế này vừa kiểm tra năng lực đọc, vừa đánh giá năng lực viết; vừa yêu cầu học sinh nhận diện những yếu tố cụ thể của văn bản, vừa từng bước nâng lên khả năng phân tích, lí giải và bày tỏ quan điểm. Ở phần văn học, từ việc xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật, phân tích chi tiết gắn với nhân vật Biết Điều, đến viết đoạn văn phân tích chủ đề hoặc đặc sắc nghệ thuật của văn bản, đề đã tạo được một tiến trình hợp lí từ nhận biết đến thông hiểu và vận dụng. Ở phần nghị luận xã hội, câu hỏi về tác dụng của lí lẽ và bằng chứng là bước chuẩn bị trực tiếp, có ý nghĩa phương pháp, trước khi học sinh viết một bài văn nghị luận hoàn chỉnh.
Đặc biệt, đề thi bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018 môn ngữ văn. Chương trình mới không hướng đến việc học sinh ghi nhớ máy móc nội dung những văn bản đã học, mà chú trọng khả năng đọc hiểu những ngữ liệu mới theo đặc trưng thể loại, nhận biết và phân tích được cách văn bản tạo nghĩa, đồng thời biết vận dụng năng lực ngôn ngữ để viết những văn bản nghị luận có lí lẽ, bằng chứng và quan điểm cá nhân. Việc sử dụng hai ngữ liệu mới, một văn bản truyện và một văn bản nghị luận, cho thấy đề thi đã chuyển trọng tâm đánh giá từ “học thuộc bài” sang năng lực đọc độc lập và năng lực viết thực chất của học sinh. Đây cũng là tinh thần của việc đổi mới kiểm tra, đánh giá môn ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018 và định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hạn chế sử dụng lại ngữ liệu đã học trong sách giáo khoa khi đánh giá cuối cấp.
Về tính vừa sức, đề thi lựa chọn ngữ liệu có dung lượng hợp lí, cách diễn đạt trong sáng, tình huống dễ tiếp cận với học sinh lớp 9. Hình tượng chú robot Biết Điều bắt đầu biết rung động, biết lo sợ đánh mất chính mình, biết đặt câu hỏi về ranh giới giữa “máy móc” và “con người” vừa có màu sắc hiện đại, vừa không quá xa lạ hay đánh đố thí sinh. Đằng sau câu chuyện tưởng như mang hơi hướng công nghệ là một câu hỏi rất gần với tuổi mới lớn: điều gì làm nên một con người thực sự? Ở phần nghị luận xã hội, vấn đề thiếu cảm xúc, khô cứng cảm xúc của một số bạn trẻ hiện nay cũng là vấn đề học sinh có thể quan sát từ đời sống học đường, gia đình, mạng xã hội và chính trải nghiệm trưởng thành của mình. Vì vậy, đề mở ra cơ hội để đa số thí sinh có thể làm bài, không tạo cảm giác xa lạ hoặc quá sức.
Tuy nhiên, giảng viên này khẳng định, vừa sức không có nghĩa là dễ dãi. Điểm đáng ghi nhận của đề thi là khả năng phân loại thí sinh khá rõ. Những học sinh chỉ dừng lại ở việc kể lại nội dung văn bản hoặc nêu suy nghĩ chung chung vẫn có thể đạt được mức điểm cơ bản; nhưng để đạt điểm khá, giỏi, các em phải thực sự có năng lực đọc tinh tế và viết mạch lạc. Chẳng hạn, với văn bản về robot Biết Điều, học sinh giỏi cần nhận ra rằng sự trưởng thành của nhân vật không nằm ở việc tích lũy thêm dữ liệu, mà ở khoảnh khắc biết xúc động, biết tự vấn và biết khao khát được bắt đầu lại như một chủ thể có đời sống nội tâm. Khi phân tích nghệ thuật, các em cũng phải chỉ ra được hiệu quả của tình huống giả tưởng, đối thoại, chi tiết biểu cảm và cách xây dựng nhân vật, chứ không chỉ nhận xét chung rằng văn bản “hay” hay “cảm động”.
Khả năng phân loại còn thể hiện rõ hơn ở phần nghị luận xã hội. Việc cho thí sinh lựa chọn một trong hai yêu cầu viết là một cách thiết kế linh hoạt và nhân văn. Đề thứ nhất đòi hỏi học sinh nhận diện một vấn đề thực tiễn, phân tích biểu hiện, nguyên nhân hoặc hệ quả, từ đó đề xuất giải pháp khả thi để làm phong phú đời sống cảm xúc của người trẻ. Đề thứ hai với nhan đề “Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương” mở ra không gian suy luận rộng hơn, yêu cầu người viết có khả năng khái quát, kết nối cảm xúc với lòng trắc ẩn, sự sẻ chia và cách con người ứng xử với nhau.
Một ưu điểm nổi bật khác của đề, theo thạc sĩ Duy đó là tính thẩm mĩ. Chủ đề “Những sắc màu cảm xúc” được triển khai nhất quán, tự nhiên và có chiều sâu. Văn bản văn học đưa người đọc đến với hành trình một robot từ chỗ chỉ biết vận hành theo lệnh đến khi bắt đầu biết rung động và tự nhận thức. Văn bản nghị luận tiếp tục soi sáng ý nghĩa của cảm xúc trong đời sống con người và cộng đồng. Hai ngữ liệu không đứng cạnh nhau một cách cơ học mà thực sự đối thoại với nhau: từ một câu chuyện giàu tưởng tượng về sự thức tỉnh cảm xúc đến một suy ngẫm trực tiếp về nguy cơ con người trở nên lạnh lùng, khô cứng nếu đánh mất khả năng rung động. Nhờ vậy, đề thi không chỉ là tập hợp câu hỏi kiểm tra kĩ năng mà còn tạo thành một chỉnh thể thẩm mĩ có dư âm.
Đặc biệt, giảng viên này nhấn mạnh, đề thi cũng mang tính giáo dục rất đáng trân trọng. Trong bối cảnh người trẻ đang sống giữa nhịp độ nhanh của công nghệ, mạng xã hội, áp lực học tập và nhiều hình thức giao tiếp dễ trở nên vội vàng, hời hợt, việc đặt vấn đề về cảm xúc là một lựa chọn có ý nghĩa. Đề không lên lớp học sinh bằng những lời răn dạy nặng nề, mà nhẹ nhàng dẫn các em đến nhận thức rằng: biết xúc động trước một chiếc lá rơi, biết lắng nghe nỗi buồn của người khác, biết thấu hiểu chính mình và biết sống yêu thương không phải là sự yếu đuối, mà là dấu hiệu của một đời sống tinh thần trưởng thành. Một đề thi như vậy không chỉ đo năng lực Ngữ văn, mà còn góp phần nuôi dưỡng ở học sinh phẩm chất nhân ái, khả năng đồng cảm và trách nhiệm với cộng đồng.
“Có thể nói, đề thi tuyển sinh lớp 10 môn ngữ văn TP.HCM năm 2026 đã đạt được sự hài hòa đáng quý giữa chuẩn mực đánh giá năng lực và giá trị giáo dục của môn học. Đề khoa học trong cấu trúc, vừa sức trong ngữ liệu, đẹp trong ý tưởng, nhân văn trong thông điệp và đủ độ mở để phân loại thí sinh. Quan trọng hơn, đề đã cho thấy một quan niệm đúng đắn về việc dạy và học ngữ văn trong nhà trường hôm nay: học văn còn để con người biết rung động, biết suy nghĩ và biết sống tử tế hơn giữa cuộc đời” – thạc sĩ Duy nhấn mạnh.
Yến Hoa

Bình luận (0)