Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Những bài thơ nổi tiếng về ngày đại thắng

Tạp Chí Giáo Dục

Chiến thng 30-4-1975 là mt trong nhng mc son chói li nht trong lch s dân tc Vit Nam. Sau 21 năm kháng chiến chng M cu nưc đy gian kh, máu và la, quân và dân ta đã gii phóng hoàn toàn min Nam, thng nht đt nưc. Khonh khc lch s y không ch là nim vui ln lao ca toàn dân tc mà còn là ngun cm hng bt tn cho văn hc ngh thut, đc bit là thơ ca.

Học sinh hóa thân thành nhân vật trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê (ảnh minh họa).  Ảnh: T.L

Những bài thơ nổi tiếng về ngày 30-4 đã khắc họa sống động không khí tưng bừng, khí thế hào hùng, niềm hạnh phúc ngập tràn và cả những hy sinh thầm lặng của cha anh. Đọc những vần thơ ấy, ta không khỏi bồi hồi, tự hào và xúc động sâu sắc trước sức mạnh của ý chí dân tộc và giá trị nhân văn mà thơ ca mang lại.

Một trong những bài thơ để đời phải kể đến là “Toàn thắng về ta” của Tố Hữu. Bài thơ này được viết ngay ngày 1-5-1975, chỉ một ngày sau khi quân và dân ta giải phóng hoàn toàn Sài Gòn. Đây là một trong những bài thơ nổi bật nhất thể hiện niềm vui bùng nổ, hạnh phúc ngập tràn và lòng biết ơn sâu sắc của toàn dân tộc trước Đại thắng mùa Xuân 1975. “Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp/ Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta/ Chúng con đến, xanh ngời ánh thép/ Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa…”. Hình ảnh “buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp” kết hợp với “xanh ngời ánh thép” và “lộng lẫy cờ hoa” đã vẽ nên một bức tranh huy hoàng, rực rỡ của chiến thắng. Tố Hữu không chỉ miêu tả cảnh quân ta tiến vào Sài Gòn mà còn khéo léo thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại đã dẫn dắt dân tộc đến ngày toàn thắng. Câu thơ “Cho chúng con giữa vui này được khóc/ Hôn mỗi đứa em, ôm mỗi mẹ già” khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào. Niềm vui lớn lao xen lẫn nước mắt – đó là nước mắt của hạnh phúc, của sự giải tỏa sau bao năm chờ đợi, của lòng biết ơn những hy sinh thầm lặng của hậu phương và của những người đã ngã xuống. Bài thơ thể hiện rõ phong cách thơ Tố Hữu: chính trị – trữ tình, kết hợp hài hòa giữa lý trí cách mạng và tình cảm sâu sắc.

Xuân Diệu với “Bão giải phóng ở miền Nam” và “Đi giữa Sài Gòn” miêu tả không khí sôi sục, cuồn cuộn như cơn bão cách mạng quét sạch bóng tối thực dân, đế quốc. Trong đó, bài “Bão giải phóng ở miền Nam” được sáng tác ngay sau chiến thắng 30-4-1975, là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện niềm vui tưng bừng, khí thế sôi sục và cảm xúc dạt dào trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Bài thơ lấy hình ảnh “bão” làm trung tâm để khắc họa sức mạnh vĩ đại, không thể cưỡng lại của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta. Xuân Diệu miêu tả cuộc giải phóng miền Nam như một cơn bão giải phóng cuồn cuộn, dữ dội, quét sạch bóng tối của chế độ tay sai và quân xâm lược Mỹ. “Bão” ở đây là bão cách mạng, bão của ý chí nhân dân, của sức mạnh tổng hợp giữa Bắc – Nam, giữa chính nghĩa và lòng dân. Cơn bão mang theo không khí tưng bừng, rực rỡ cờ hoa, tiếng reo hò vang dội. Nó xóa tan nỗi đau chia cắt, giải phóng con người khỏi ách thống trị, mang lại ánh sáng tự do và hạnh phúc cho miền Nam thân yêu.

Chế Lan Viên trong “Ngày vĩ đại” hay “Thơ bổ sung” khẳng định đây là “ngày vĩ đại” của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới. Trong đó, bài “Ngày vĩ đại” được nhà thơ sáng tác ngày 3-5-1975, là một trong những áng thơ dài nổi bật nhất ca ngợi đại thắng. Bài thơ dài 188 câu, mang giọng điệu ào ạt, hùng tráng, kết hợp giữa cảm xúc dâng trào, suy tưởng triết lý và niềm vui lịch sử lớn lao. Chế Lan Viên khắc họa khí thế hào hùng của chiến thắng bằng những hình ảnh mạnh mẽ: Quân dân ta như “rồng bay”, tiến công dồn dập, giải phóng miền Nam; niềm vui bùng nổ, xen lẫn nước mắt hạnh phúc và những giây phút “tỉnh thức vĩ đại mà cứ ngỡ cơn mơ vĩ đại”; hình ảnh Bác Hồ hiện lên sống động giữa niềm vui chung: “Cả đất nước ùa theo nửa mừng nửa khóc/ Mỗi chúng ta rưng rưng như chợt thấy Bác Hồ/ Kìa tiếng chuông reo trên nhà sàn của Bác/ Tin báo tiệp về ở giữa trang thơ …”.

Tế Hanh viết “Trở lại con sông quê hương” và “Mùa xuân 75” với cảm nhận sâu lắng. Ở “Mùa xuân 75”, bài thơ xoay quanh cảm nhận sâu sắc về một mùa xuân đặc biệt, khác hẳn với mọi mùa xuân trước đó trong lịch sử dân tộc. Câu thơ nổi tiếng và là “linh hồn” của bài thơ: “Mùa xuân nào như mùa xuân 75/ Hai mươi ngày thay đổi hai mươi năm”. Tế Hanh đã khái quát một cách tài tình: chỉ trong 20 ngày cuối tháng tư, quân và dân ta đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện đất nước – chấm dứt hơn 20 năm chia cắt Nam – Bắc, kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài, mang lại thống nhất non sông và hòa bình cho dân tộc. Bài thơ khắc họa không khí hào hùng, tưng bừng của mùa xuân chiến thắng: Cả miền Nam như bừng tỉnh sau bao năm đau thương, ngập tràn cờ hoa, tiếng reo hò, niềm vui giải phóng. Chiến thắng không chỉ là quân sự mà còn là sự tất thắng của ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cùng với đó, nhiều nhà thơ lớn khác cũng để lại những áng thơ bất hủ về ngày lịch sử này. Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Giang Nam…, mỗi người một giọng điệu nhưng đều chung một niềm vui thống nhất non sông, niềm tự hào dân tộc.

Những bài thơ sau này như “Phan Thiết có anh tôi” của Hữu Thỉnh (với những câu như: “Em đã qua những cơn sốt anh qua/ Em đã gặp những trận mưa rừng anh gặp/ Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết/ Em một mình đứng khóc ở sau xe”) hay “Mừng chiến thắng 30-4” của Phạm Thành (với những câu như: “Ngày chiến thắng tưng bừng lịch sử/ Bốn mươi năm vẫn cứ ngân vang/ Cờ bay trên khắp bản làng/ Ngày 30 ấy sang trang nước nhà!”), hay “Tiếng ve trưa” của Vương Trọng (với những câu: “Cắm cờ lên đỉnh cuối cùng/ Tăng về nép dưới bóng rừng nghỉ ngơi/ Cửa tròn vừa mới hé thôi/Nhô đầu ra, ngập một trời tiếng ve”)… hay các bài thơ của thế hệ sau cũng tiếp nối tinh thần ấy, nhắc nhớ xương máu của hàng triệu liệt sĩ, nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình hôm nay. Chúng không chỉ ca ngợi chiến thắng mà còn khắc họa hình ảnh người lính giải phóng với “mũ lá sen xanh”, “dép lốp”, “quân phục cũ nửa chừng” – giản dị nhưng oai hùng, gần gũi nhưng vĩ đại.

Đọc những bài thơ về chiến thắng 30-4, chúng ta có thể cảm nhận sâu sắc sức mạnh của thơ ca trong việc lưu giữ và lan tỏa lịch sử. Thơ không chỉ ghi lại khoảnh khắc mà còn khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần đại đoàn kết. Trong bối cảnh đất nước ta hôm nay đang hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những vần thơ ấy vẫn giữ nguyên giá trị giáo dục. Chúng nhắc nhở thế hệ trẻ – những người sinh ra và lớn lên trong hòa bình – phải biết trân trọng độc lập, tự do mà cha ông đã đổ biết bao máu xương để có được. Đồng thời, chúng khơi dậy trách nhiệm tiếp nối truyền thống, góp sức xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại với nhịp sống hối hả và sự bùng nổ của thông tin số, một số bạn trẻ có nguy cơ xa rời lịch sử, coi nhẹ giá trị của ngày 30-4. Vì vậy, việc học tập và lan tỏa những bài thơ nổi tiếng về chiến thắng này qua nhà trường, gia đình và các nền tảng truyền thông là vô cùng cần thiết. Không nên để ngày lễ trở thành hình thức mà phải biến nó thành dịp để mỗi người tự vấn lương tâm, rèn luyện bản thân và hành động cụ thể: học tập tốt, lao động sáng tạo, sống có trách nhiệm với cộng đồng.

Trnh Minh Giang

 

Bình luận (0)