Danh xưng không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là tấm gương phản chiếu lịch sử, xã hội của một dân tộc. Cùng với lớp từ bản địa cơ bản, qua quá trình giao thoa, tiếp biến ngôn ngữ, từ vựng tiếng Việt có vô vàn danh xưng khác nhau về cha mẹ trên mọi miền đất nước, tiềm ẩn trong đó bản sắc văn hóa và tình cảm, ký ức thân thương của bao thế hệ người Việt…

Kỷ niệm 51 năm ngày thống nhất đất nước, bao cảm xúc náo nức vào thời điểm ấy ùa về trong chúng ta. Ngày 30-4-1975 kết thúc 20 năm Bắc – Nam chia cắt, non sông liền một dải, nước nhà bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trước đó, trong thời chiến tranh, lũ học sinh miền Trung chúng tôi không được tiếp xúc với bạn bè các vùng, nên hầu như không biết gì về nếp sống, tập quán lẫn ngôn ngữ ở các miền khác. Nhớ thuở ấy, có lần nghe trên đài truyền hình bài hát “Tía em, má em” của nhạc sĩ Văn Lương có câu “Tía em hừng đông đi cày bừa…, tía em là một người nông dân…”, tôi thắc mắc “tía” là gì thì được ba má giải thích: đó là từ xưng – gọi người cha ở Nam bộ.
Sau tháng 4-1975, lớp trung học chúng tôi được đón thêm nhiều bạn mới theo cha mẹ chuyển công tác từ miền Bắc vào, tôi dần biết thêm nhiều cách gọi cha mẹ ở các vùng miền, ngoài cha mẹ là danh xưng phổ biến, người Việt còn khá nhiều đại từ nhân xưng khác dùng để gọi hai đấng sinh thành, hoặc dùng để xưng hô.
Trước hết, có lẽ bởi “mẹ” là người quan trọng, thân yêu, gần gũi nhất với mỗi người nên trong tiếng Việt, các phương ngữ có khá nhiều từ gọi mẹ. Theo Từ điển tiếng Việt, “mẹ” là “người đàn bà có con, trong quan hệ với con (có thể dùng để xưng gọi)”. Các từ đồng nghĩa với “mẹ” trong tiếng Việt rất phong phú, thể hiện sự đa dạng địa phương và sắc thái tình cảm như má, bu, bầm, mạ, u, mế, mệ, me, nạ, mợ, đẻ, cái… trang trọng thì gọi mẫu thân. Tùy vùng miền, thời điểm, hoàn cảnh, phong tục và thói quen xưng hô của mỗi gia đình, từ mẹ được gọi bằng các cách khác nhau, thể hiện sự thân mật hoặc kính trọng; hiện nay, phần lớn ở miền Bắc dùng từ mẹ, trong khi miền Trung gọi mạ, còn miền Nam kêu bằng má.
Trong văn hóa miền Trung/Bắc, người dân vùng bắc miền Trung thường gọi mẹ là mạ, mợ, u, bu, bầm, người Huế dùng từ mạ, mệ, còn u/bu/bầm/đẻ là cách gọi truyền thống, mang nét văn hóa miền Bắc.
Nhìn lại lịch sử, trong tiếng Việt cổ còn có từ cái và từ nạ được dùng với nghĩa từ mẹ hiện nay, được ghi lại trong các ngữ liệu “Con dại cái mang”, “Nàng về nuôi cái cùng con…” và “Con có nạ như thiên hạ có vua”, “Quen việc nhà nạ, lạ việc nhà chồng”…
Ở miền Nam, hiện nay mẹ chủ yếu được gọi là “má”, mà một số nhà nghiên cứu cho là ảnh hưởng từ tiếng Pháp “maman” (mẹ), hoặc gọi “me” là biến âm trực tiếp từ tiếng Pháp “mère” (mẹ). Cạnh đó, có ý kiến khác cho rằng “má” là từ gốc Quảng Đông, Trung Quốc 媽 (phiên âm mā, có nghĩa là mẹ); ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng má/mạ là từ bản địa, có gốc gác từ tiếng Chăm và Khmer.
Có ý kiến nhận định rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ giao thoa với nhiều thứ tiếng, trong đó đặc biệt chịu sự ảnh hưởng lớn của tiếng Hán/Trung nên có nhiều từ được tiếp biến, trại âm từ tiếng Trung Hoa, như các từ “mẫu thân” phiên âm trực tiếp từ tiếng Trung Quốc là 母親 (phát âm là “mǔqīn”); từ này còn được một phương ngữ Hoa phát âm “búchhin” có thể đã ảnh hưởng đến cách gọi “bu” ở miền Bắc Việt Nam và còn được biến âm thành các từ bầm, u; thêm những cách gọi gần với tiếng Trung Quốc hơn như các từ mạ/mệ (Trung bộ), “má” (Nam bộ) đều có gốc gác sâu xa từ từ 妈妈 (māma).
Tương tự như từ mẹ, từ gọi cha ở các vùng miền cũng khá đa dạng. Theo Từ điển tiếng Việt, cha là “người đàn ông có con, trong quan hệ với con (có thể dùng để xưng gọi)”; từ phương ngữ đồng nghĩa với cha có ba, bố, bô, bọ, tía, thầy, phụ thân… phổ dụng tùy theo ngữ cảnh, địa phương.
Theo một số nhà nghiên cứu, các danh xưng gọi cha có thể có nguồn gốc từ gốc Hán, chẳng hạn như từ cha có thể xuất phát từ từ “đa”
(爹), từ bố/bô có thể có từ từ “phụ” (父) hoặc từ ba cũng được cho là biến thể khác từ từ “bà” (爸); phương ngữ miền Bắc và Trung bộ bọ/bô có thể là biến thể của từ bố; còn từ thầy vốn được dùng gọi cha ở Bắc bộ, có lẽ từ ý thức của người xưa rất coi trọng con chữ và đề cao sự học.
Ở Nam bộ, từ tía dùng để gọi cha cũng được cho là biến âm của từ tiếng Hán hiện đại “đa” (爹), do ảnh hưởng giao thoa với văn hóa người Hoa Triều Châu khi họ di cư xuống khẩn hoang và định cư tại Nam Kỳ lục tỉnh.
Trên đây, chúng tôi dẫn lại các quan điểm về xuất xứ một số danh xưng cha mẹ để bạn đọc tham khảo; tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi, ngoại trừ số ít biến thể có nguồn gốc xác đáng, còn hầu hết các phương ngữ đồng nghĩa cha mẹ kể trên vốn thuộc nhóm từ cơ bản, từ bản địa, có lẽ đã tồn tại trong từ vựng tiếng Việt trước khi diễn ra quá trình giao thoa, tiếp biến với các ngôn ngữ ngoại lai.
Về mặt âm vị học, một điều đáng lưu ý là các âm tiết định danh cha mẹ trong tiếng Việt – không ngoài hiện tượng ngôn ngữ phổ quát thú vị trên thế giới – đa phần có âm đầu là âm môi m/b: mẹ, má, mạ, mệ, mẫu; ba, bố, bầm, bu, bủ…, có lẽ theo quy luật sinh học – ngôn ngữ của trẻ em (dễ bập bẹ tự nhiên) trong giai đoạn tập nói đầu đời khi cơ quan phát âm của trẻ chưa hoàn thiện.

Trong tiếng Việt, các cách gọi “cha mẹ” đa dạng ẩn chứa các sắc thái văn hóa vùng miền khác nhau. Ngoài từ cha mẹ trung tính phổ dụng trên cả nước và xuất hiện trong nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ, người miền Bắc gọi bố mẹ/thầy mẹ/thầy u/thầy bu/u cha/cậu mợ mang dấu ấn của nền văn minh sông Hồng; người miền Nam kêu ba má/tía má chứa chan tình cảm mộc mạc, hào sảng của cư dân vùng đất mới; còn người miền Trung lại xưng hô là cha mệ/bọ mạ bằng giọng xưa thân thương với nhiều từ ngữ cổ sâu sắc.
Những biến thể này là kết quả sau hàng ngàn năm phát triển lịch sử, cùng với quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa, ngôn ngữ bản địa (có thể bị ảnh hưởng bởi từ ngữ ngoại lai) đã hình thành vô vàn phương ngữ làm phong phú cho tiếng Việt, còn lưu dấu qua ngữ liệu: “Con dại cái mang”, “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, “Đôi ta thương chắc mần ri/ Mẹ thầy mần rứa, anh thì mần răng”, “Bầm ơi có rét không bầm…”…
Mỗi địa phương có nhiều danh xưng khác nhau gọi cha mẹ, dù bằng cách gọi nào, tất cả những từ ấy đều thiêng liêng và rất đỗi thân thương, không chỉ dành gọi người quan trọng nhất cuộc đời mỗi con người mà còn mang ý nghĩa lịch sử, cội nguồn sâu xa.
Sự đa dạng trong cách gọi cha mẹ không chỉ mang đặc trưng ngôn ngữ vùng miền, mà còn là biểu tượng của bản sắc văn hóa dân tộc, gắn với tình cảm, ký ức tuổi thơ và cả nền nếp gia phong ở từng chốn quê, là những nét chạm khắc chứa chan xúc cảm vừa rất riêng lại vừa rất chung, trong bức tranh ngôn từ tổng thể – đại đồng mà vẫn dị biệt của người Việt.
Trong thời đại hiện nay, khi nhiều giá trị truyền thống – trong đó có ngôn ngữ – phần nào bị mai một bởi sự toàn cầu hóa, việc thấu hiểu và lưu giữ những cách gọi cha mẹ không chỉ là giữ gìn ngôn ngữ mà còn là lưu giữ lấy cội nguồn.
Đỗ Thành Dương

Bình luận (0)