Nhân một bạn học viên người nước ngoài đang học tiếng Việt băn khoăn về tên gọi các con vật màu đen hơi phức tạp với nhiều danh từ/ngữ danh từ: ngựa ô, chó mực, mèo mun… trong lúc tiếng Anh lại đơn giản hơn khi chủ yếu dùng từ “black” kết hợp với tên con vật: black horse, black dog, black chicken, black cat…, ngẫm ra thấy tiếng Việt thật tinh tế và phong phú.

Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp, trao đổi thông tin mà còn là tấm gương phản chiếu trung thực tư duy và tâm hồn của một dân tộc. Trong kho tàng từ vựng tiếng Việt, hiện tượng định danh màu sắc sự vật – tiêu biểu là màu đen – thông qua các kết hợp từ như ngựa ô, gà ô, gà ác, chó mực, mèo mun, nếp than, dầu hắc… là một hiện tượng ngôn ngữ đặc sắc và thú vị. Đi sâu tìm hiểu, ta thấy tên gọi các con vật màu đen trong tiếng Việt gồm các mục từ là từ ghép chính phụ trong từ điển: ngựa ô, chó mực, mèo mun… Các từ tố ô, mực, mun (chỉ màu đen) gắn chặt với từ tố trung tâm để tạo thành một danh từ ghép cố định, mà không thể tách rời, chêm xen yếu tố khác vào tổ hợp được, như: ngựa “màu” ô, chó “rất” mực, mèo “màu” mun…
Thoạt nhìn, các sự vật này đều cùng có đặc điểm khái quát chung về mặt thị giác là sắc đen; tuy nhiên, thay vì sử dụng từ tố “đen” cho tất cả các trường hợp theo kiểu tư duy đơn thuần trong một số ngôn ngữ, người Việt lại sáng tạo ra cả một hệ thống từ kết hợp chỉ màu đen đa dạng và có sự phân hóa rạch ròi tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể, không thể hoán đổi cho nhau hay dùng chung. Hiện tượng này không chỉ thể hiện sự phong phú về mặt từ ngữ mà còn cho ta thấy thói quen quan sát tỉ mỉ của cư dân nông nghiệp và quy luật giao thoa, tiếp biến ngôn ngữ độc đáo của dân tộc ta qua nhiều ngàn năm lịch sử.
Bản chất của hiện tượng ngôn ngữ này trong tiếng Việt, dưới góc độ ngữ nghĩa học và trường từ vựng, khi kết hợp với các danh từ chỉ sự vật, các từ nhằm chỉ màu đen lập tức thay đổi hình thức biểu đạt để phù hợp với đặc tính tự nhiên của đối tượng đó. Chúng ta có “ngựa ô”, “chó mực”, “mèo mun” chứ không gọi là “ngựa mun”, “chó ô” hay “mèo mực”; sự phân hóa này bắt nguồn từ kết quả quan sát tinh tế của ông cha ta đối với thế giới tự nhiên. “Ô” từ nghĩa gốc là con quạ/màu đen, cộng hợp nghĩa với ngựa, gà thành ngựa ô, gà ô biểu thị nghĩa ngựa đen, gà đen; tương tự, dân gian gọi con mèo đen là “mèo mun” xuất phát từ sắc đen của gỗ mun, còn “gà quạ” là tên gọi dân gian của giống gà Australorp siêu trứng nhập khẩu từ Úc có bộ lông đen tuyền đặc trưng giống màu lông con quạ, hoặc “gà ác” (hay một giống gà H’Mông) lông trắng nhưng da, thịt, xương, nội tạng màu đen. Xem ra, chỉ riêng với loài vật nuôi gần gũi, ngôn ngữ đã tự tách chiết ra những nét nghĩa biểu cảm rất riêng biệt cho cùng một sắc đen trung tính.

Sự sáng tạo ngôn ngữ này độc đáo ở chỗ người Việt sử dụng phương thức so sánh ngầm thông qua việc lấy tên một sự vật có màu đen đặc trưng để chỉ màu sắc cho một sự vật khác, như tên gọi “nếp than” chỉ một giống lúa nếp màu đen, gợi nhớ đến sắc đen của than củi; hoặc tên gọi “gà quạ”, “chó mực” xuất phát từ những sự vật màu đen quạ, mực là các ví dụ điển hình cho tư duy liên tưởng này.
Bên cạnh bộ phận từ thuần Việt, hiện tượng ngôn ngữ này còn ghi nhận nhiều từ ngữ gốc Hán qua quá trình giao thoa văn hóa lâu đời du nhập vào tiếng Việt, tạo nên những đơn vị từ mang tính học thuật, địa lý mà các danh từ/ngữ danh như “dầu hắc”, “biển Hắc Hải” là những minh chứng rõ nét. Từ “hắc” trong tiếng Hán có nghĩa là đen, khi đi vào ngôn ngữ Việt nó góp mặt trong các thuật ngữ kỹ thuật như “dầu hắc” (hắc ín/nhựa đường) là cách gọi kết hợp giữa từ thuần Việt “dầu” và từ Hán – Việt “hắc” để chỉ chất lỏng màu đen từ dầu mỏ, dùng trong công nghiệp xây dựng cầu đường. Sự kết hợp mang tính lai tạo này giúp từ ngữ vừa giữ được sự thân thuộc của tiếng mẹ đẻ, vừa tiếp nhận yếu tố từ ngữ ngoại lai để định danh cho những sản phẩm mới của thời đại công nghiệp. Cạnh đó, nhìn rộng ra thế giới thông qua lăng kính dịch thuật và tiếp nhận địa danh quốc tế, từ “hắc” lại một lần nữa khẳng định vị thế của mình trong địa danh “Hắc Hải”. Bản chất tên gọi của vùng biển này trong tiếng Anh là “Black Sea”, khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, các nhà dịch thuật đã lựa chọn từ Hán-Việt “Hắc Hải” hoặc dịch nghĩa thuần Việt thành “Biển Đen”. Việc tồn tại song song hai cách gọi Hắc Hải (mang sắc thái trang trọng, có tính địa lý hành chính) và Biển Đen (là từ thông thoại, mang tính trực quan) cho thấy tiếng Việt luôn có những phương án linh hoạt để xử lý các khái niệm ngoại lai; sự lựa chọn từ ngữ này chứng tỏ người Việt dùng từ không chỉ để gọi tên, mà còn nhằm thể hiện nhận thức, tư duy và cảm xúc đối với sự vật, hiện tượng được định danh, gắn liền với ngữ cảnh của người phương Đông, đặc biệt là cư dân nông nghiệp lúa nước.
Các từ “ô”, “ác” chỉ con quạ/màu đen (như điển tích cầu Ô Thước trong tích truyện Ngưu Lang Chức Nữ và câu thơ “Trải bao thỏ lặn ác tà” trong Truyện Kiều), “hắc”, “mực”, “mun”, “quạ”, “than”… cùng nhằm chỉ sắc đen tạo nên vô vàn tên gọi phong phú về những sự vật màu đen trong từ vựng tiếng Việt. Hiện tượng ngôn ngữ này mang tính ổn định và có sức sống bền bỉ, mãnh liệt qua thời gian, trải qua hàng ngàn năm biến động lịch sử, dù từ vựng tiếng Việt có tiếp nhận thêm rất nhiều từ ngữ mới hay các thuật ngữ khoa học hiện đại từ các ngôn ngữ khác, thì những từ ngựa ô, chó mực, mèo mun, gà ô/gà quạ/gà ác… vẫn giữ nguyên vị trí của chúng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Việt.
Mở rộng thêm, đối lập với màu đen, người dân dùng từ “cò” để chỉ các con vật có sắc trắng như trâu cò, chó cò. Nguồn gốc dân gian của cách gọi gắn chữ “cò” sau tên các con vật này cũng xuất phát từ lối tư duy liên tưởng trực quan và nền văn hóa nông nghiệp lúa nước mộc mạc của người Việt cổ; hình ảnh quen thuộc hằng ngày “cánh cò bay lả rập rờn” trên đồng ruộng với bộ lông trắng muốt đã in sâu vào tâm thức người nông dân Việt, nên từ “cò” mặc nhiên trở thành biểu tượng cho màu trắng, khiến những từ ghép thuần Việt bình dị, dân dã trâu cò, chó cò lập tức được mọi người hiểu là con trâu, con chó có màu trắng như bộ lông con cò, gần gũi hơn rất nhiều so với các từ Hán – Việt trang trọng chứa từ tố “bạch” (trắng) như bạch ngưu, bạch khuyển/bạch cẩu.
Trong kho tàng ngôn ngữ dân gian Việt Nam, các cặp từ đối lập màu đen – trắng của vật nuôi như chó mực – chó cò, gà quạ – gà nhạn, mèo mun – mèo bông, ngựa ô – ngựa bạch… là minh chứng rõ nét cho sự tinh tế và giàu tính hình tượng của tiếng Việt, bên cạnh các kết hợp Việt – Hán quen thuộc khác: chuột bạch, ngựa bạch, hoặc các từ Hán – Việt: bạch hổ, bạch tượng, bạch mã, bạch xà…
Nhìn nhận một cách tổng thể, hiện tượng định danh màu đen qua một loạt các từ ngữ đa dạng như ô, ác, hắc, mực, mun, quạ, than… đã làm khó người nước ngoài khi học tiếng Việt – là kết quả của một quá trình lao động sáng tạo, chắt lọc và tiếp biến văn hóa lâu dài của nhiều thế hệ. Qua đó, ta thấy tiếng Việt không chỉ giàu đẹp về thanh điệu, ngôn từ mà còn vô cùng uyển chuyển, chính xác và đậm đà tính nhân văn trong tư duy ngữ nghĩa. Việc hiểu và sử dụng chính xác hệ thống từ chỉ màu sắc sự vật tinh tế này không chỉ giúp cho hoạt động giao tiếp hằng ngày trở nên sinh động, giàu hình ảnh hơn mà còn là cách để chúng ta giữ gìn, phát huy nét đẹp phong phú và giàu bản sắc văn hóa của tiếng mẹ đẻ trong thời đại hội nhập hiện nay.
Đỗ Thành Dương

Bình luận (0)