Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Vũ Bằng – “đàn anh” trong làng báo, làng văn một thời

Tạp Chí Giáo Dục

Trong lch s văn hc và báo chí Vit Nam hin đi, Vũ Bng là mt trưng hp đc bit. Cuc đi ông như mt cun tiu thuyết nhiu chương hp dn, t mt cây bút ni danh đt Hà thành, đến mt nhà báo sc so gia Sài Gòn. Chính s giao thoa gia văn chương, báo chí đã làm nên mt chân dung văn hc đa dng, đáng ngưng m ca tác gi Vũ Bng.

Nhà văn Vũ Bằng 

Vũ Bng là “đàn anh” trong làng làm báo và viết văn

Nhắc đến Vũ Bằng trước hết phải nhắc đến vị trí của ông như một “đàn anh” trong làng báo chí và văn chương Việt Nam từ những năm 1930-1945. Ông thuộc thế hệ nhà văn tiền chiến và là một trong những người đã đặt nền móng cho văn xuôi hiện đại Việt Nam. Với nền học vấn Tây học bài bản, lại sinh trưởng trong môi trường gia đình có truyền thống chữ nghĩa, Vũ Bằng sớm bước vào nghề báo từ khi còn rất trẻ. Hãy nghe Tô Hoài nói về Vũ Bằng với mấy dòng sau đây trong “Vũ Bằng – Thương nhớ mười hai”: “Trong ký ức của những nhà văn đương thời, Vũ Bằng được nhắc đến với lòng trìu mến và ít nhiều tri ân. Đó là nhà văn mang nặng nỗi niềm xa quê đau đáu, về cuối đời ngậm ngùi an phận mà hồi tưởng quá khứ tung hoành” (dẫn theo lời giới thiệu cuốn “Vũ Bằng tạp văn”, Nguyễn Ánh Ngân sưu tầm và biên soạn, NXB Hội Nhà văn, 2003, tr.9).

Ngay từ tuổi thiếu niên, ông đã cộng tác với nhiều tờ báo lớn ở Hà Nội. Đến tuổi đôi mươi, ông nhanh chóng trở thành một cây bút có tiếng, giữ vai trò chủ chốt trong các tòa soạn, đặc biệt là với những tờ báo có ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống văn hóa đô thị. Không chỉ viết báo, ông còn tham gia điều hành, biên tập, định hình phong cách nội dung cho nhiều ấn phẩm, góp phần làm nên diện mạo báo chí đô thị thời kỳ đó.

Trong lĩnh vực sáng tác, Vũ Bằng là một cây bút đa năng. Chính vì thế mà trong cuốn phê bình văn học “Nhà văn hiên đại”, Vũ Ngọc Phan đã dành đến 19 trang để nói về ông. Vũ Bằng viết truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, bút ký và đặc biệt nổi bật ở thể tùy bút. Các tác phẩm tiêu biểu như: Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo, Cai… cho thấy một năng lực quan sát tinh tế và một vốn sống phong phú. Tạp chí Văn học, số ra ngày 15-5-1973, viết về Vũ Bằng như sau: “Các nhật báo thời tiền chiến và hiện đại ông (tức Vũ Bằng) cũng cộng tác rất nhiều và thường giữ nhiệm vụ cố vấn cho tòa soạn, nên ông không bao giờ đứng tên”.

Trong đó, tác phẩm “Thương nhớ mười hai” được xem là đỉnh cao phong cách của Vũ Bằng. Tác phẩm không chỉ là một tập tùy bút đơn thuần mà còn là bản “trường ca của nỗi nhớ” về Hà Nội và miền Bắc. Mỗi tháng trong năm hiện lên qua những phong tục, món ăn, cảnh sắc, con người – tất cả được nhuốm màu hoài niệm, da diết mà không bi lụy. Nỗi nhớ trong văn ông không ồn ào mà thấm sâu, lan tỏa như một dòng chảy âm thầm. Cố GS.NGND Hoàng Như Mai (nguyên Chủ tịch Hội nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP.HCM) từng viết trong lời giới thiệu về cuốn sách này và ví những “vật sản từng tháng ở miền Bắc” là những thứ “thời trân”, như trong Truyện Kiều lần đầu tiên Kim Trọng được đón tiếp Thúy Kiều ở nhà mình: “Thời trân thức thức sẵn bày”. Ý chỉ rằng những thứ theo thời, theo mùa này rất quý.

Một trong những tác phẩm tiêu biểu về Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng. Ảnh: Phúc Anh

Các nghiên cứu cho rằng phong cách sáng tác của Vũ Bằng có thể nhìn thấy rõ hai khuynh hướng tưởng như đối lập nhưng lại bổ sung cho nhau. Một mặt, văn ông giàu chất trữ tình, sâu lắng, tinh tế trong từng chi tiết nhỏ. Một món ăn, một cơn mưa, một buổi chiều cuối năm… đều có thể trở thành chất liệu để ông gửi gắm tâm trạng. Như chính Vũ Bằng tự bạch trong lời tựa cuốn “Miếng ngon Hà Nội”:“Cuốn sách nhỏ bé này không có tham vọng gì hơn là ghi lại được nỗi buồn nhớ xa xôi và gửi gắm một chút tình cho ai ai ở Trung, Bắc cũng như Nam, mang nặng trong lòng những biệt ly xứ sở” (dẫn theo Vũ Bằng – Thương nhớ mười hai, Mê chữ, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, NXB Văn học, 2003, tr.412).

Mặt khác là giọng điệu trào phúng, châm biếm. Trong nhiều bài báo và tác phẩm, Vũ Bằng thể hiện một cái nhìn sắc sảo, đôi khi mỉa mai nhưng không cay nghiệt. Ông có khả năng “cười mà đau”, phê phán xã hội bằng những câu chữ nhẹ nhàng nhưng thấm thía. Chính sự kết hợp giữa hai yếu tố này đã tạo nên một phong cách riêng biệt của Vũ Bằng vừa đằm thắm trữ tình, vừa sắc bén sâu cay.

Nhng giai thoi và ký c v nhà văn, nhà báo Vũ Bng

Một trong những câu chuyện thường được nhắc đến là thời trẻ ông từng sa vào nghiện ngập. Tuy nhiên, điều đáng quý là ông đã vượt qua, cai nghiện và làm lại cuộc đời. Trải nghiệm này sau đó được ông đưa vào tác phẩm “Cai” với những chi tiết chân thực, ám ảnh.

Thường ngày, Vũ Bằng được bạn bè nhận xét là người hài hước, dí dỏm, có duyên ăn nói. Ông có thể kể chuyện rất sinh động, biến những điều bình thường thành thú vị. Điều này cũng phản ánh rõ trong văn phong của ông là nhẹ nhàng mà cuốn hút, giản dị mà tinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đánh giá văn Vũ Bằng không cầu kỳ nhưng lại giàu cảm xúc và chất văn hóa. Ông có khả năng “làm sống lại” những gì tưởng như đã mất như Nguyễn Tuân từng làm sống lại trong “Vang bóng một thời”.

Nếu, với Nguyễn Tuân, người mà Tô Hoài gọi là “tay ăn” (trong hồi ký “Cát bụi chân ai”), thì Vũ Bằng được coi là người “sành ăn” bậc nhất trong văn chương Việt. Khi đọc “Miếng ngon Hà Nội”, nhiều người tưởng ông chỉ “tả món ăn cho hay”. Nhưng thực ra, Vũ Bằng là một người cực kỳ tinh tế trong ẩm thực. Có giai thoại kể rằng ông có thể phân biệt phở ngon, dở chỉ qua mùi nước dùng. Nhớ rõ từng hàng quà, từng con phố Hà Nội với hương vị riêng. Khi ăn một món ăn ở Sài Gòn, ông thường so sánh với “phiên bản Hà Nội” trong ký ức. Ẩm thực với Vũ Bằng không chỉ là ăn uống, mà là văn hóa, là ký ức, là quê hương.

Nếu Xuân Diệu là thi sĩ sáng tác không ngừng nghỉ, ông viết như gà đẻ trứng:“Cục ta cục tác/ Hết trứng này ta đẻ trứng khác”. Thì Vũ Bằng được coi là nhà văn luôn thay đổi trong cách viết để đem đến những thể nghiệm mới cho văn học. “Nhà văn Tô Hoài kể lại rằng ông hay sáng tác theo kiểu mẫu mỗi lúc một dạng bài, thay đổi không ngừng nghỉ. Sự đa dạng hóa phong cách của Vũ Bằng ít nhiều làm phong phú sinh hoạt làng văn, làng báo lúc ấy. Với tham vọng trở thành một người cầm đèn tiên phong, ông góp phần tạo nên nhiều xu hướng khác nhau trong văn học” (“Vũ Bằng tạp văn”, Nguyễn Ánh Ngân sưu tầm và biên soạn, NXB Hội Nhà văn, 2003, tr.9, 10).

Bạn văn cùng thời cũng dành cho ông nhiều sự trân trọng. Họ nhìn nhận ông là bậc đàn anh, là một người viết có bản lĩnh, dám đi con đường riêng. Nhân vật Hoàng trong truyện ngắn nổi tiếng “Đôi mắt” mà Nam Cao xây dựng có nguyên mẫu ngoài đời chính là đàn anh lịch lãm, bạn văn thâm tình của mình – Vũ Bằng.

Trn Ngc Tun

Bình luận (0)